Xin xem phần lược giải phía dưới.CHÁNH VĂN249.
Lão nào có bày điều ma-mị,
Mà gạt-lường bổn-đạo chúng-sanh.
Đức Minh-Vương ngự chốn Nam-Thành,
252.
Đặng phân xử những người bội nghĩa.
Trung với hiếu ta nên trau-trỉa,
Hiền với lương bổn-đạo rèn lòng.
Thường nguyện-cầu siêu-độ Tổ-Tông,
256.
Với bá-tánh vạn dân vô sự.
Đời Ngươn-Hạ nhiều người hung-dữ,
Nên xảy ra lắm sự tai-ương.
Đức Di-Đà xem thấy xót-thương,
260.
Sai chư Phật xuống miền dương-thế.
Tu kíp kíp nếu không quá trễ,
Chừng đối đầu khó kiếm Điên Khùng.
Cứu lương-hiền chẳng cứu người hung,
264.
Kẻ gian-ác đến sau tiêu-diệt.
LƯỢC GIẢI (Từ câu 249 tới câu 264)Đoạn nầy ý nói Đức Thầy chẳng hề mị dối để lừa gạt tín đồ và bá tánh mà lúc nào Ngài cũng tỏ thật cho mọi người được biết: sau nầy sẽ có Đức Thánh Vương ngự tại Hoàng thành Việt Nam để phân xử những người vong ân bội nghĩa:
“Trên Vua Minh Chánh cầm cân,
Dưới quan liêm tiết xử phân công bình”.(Hoài Cổ)
Cho nên Ngài khuyên vạn dân phải vẹn gìn trung hiếu, vì đó là hai điều trong “Tứ đại trọng ân”:“Hiếu trung phải liệu cho xong, Đến chừng gặp chúa mới mong trở về”.(Sám Giảng Q.3) Đồng thời lo rèn tập thân tâm được trở nên hiền từ thanh khiết và luôn tu cầu cho Cửu huyền Thất tổ đặng siêu thăng, cả vạn dân đều an cư lạc nghiệp, sớm tỉnh ngộ tu hành.
Bởi chúng sanh thời mạt hạ quá hung tàn bạo ác, nên có tai biến hãi hùng xảy đến. Đức Di Đà xót thương cho bá tánh gặp hồi tai họa, nên sắc lịnh cho chư Phật cùng Đức Thầy lâm phàm khai Đạo cứu dân. Ngài truyền dạy mỗi người gấp rút tu hành, để kịp thời thoát khỏi “Nếu để trễ chầy e chẳng kịp”.(Để chơn đất Bắc). Và:“ Để chừng đến việc kiếm Thầy khó ra”.(Sám Giảng Q.3).
Căn cứ luật công bằng của tạo hóa thì hiền còn dữ mất; trong cuộc tẩy trần tới đây, chỉ có người lương thiện, mới được sống tồn ngày Thượng ngươn an lạc, còn những phần tử ác hung, tất phải bị luật đào thải diệt vong.
CHÚ THÍCHMA MỊ: Dua mị dối trá.
NAM THÀNH: Thành trì nước Việt Nam.
BỘI NGHĨA: Bội ơn, bạc nghĩa, không nhớ ơn nghĩa. Đức Thầy có câu:“Gẫm nhiều người bội bạc thâm ân”.(Khuyến Thiện Q.5)
TRUNG VỚI HIẾU: (Xem chú thích chữ “Thảo cha ngay chúa” câu 290, Q.1).
TRAU TRỈA: Cũng đọc là trau tria. Có nghĩa tu sửa, giồi chuốt. Ý chỉ người hành Đạo cần trau sửa bào chuốt cho thân tâm được hoàn toàn tốt lành. Đức Thầy từng dạy:“Mau mau trau trỉa chữ lành cho xong”.(Thiên lý ca)
Và: “Trau tria nhục thể về nơi cũ,
Chùi rửa tim gan một tấc lòng”.
(Cho một vị sơ tâm)
SIÊU ĐỘ TỔ TÔNG: Siêu độ là cứu lên cho khỏi. Cũng gọi là độ thoát. Tổ tông là Ông bà dòng họ (Cửu huyền Thất tổ)… Ý nói người tu cần lo trau thân hành Đạo, bố thí trì chay để hồi hướng công đức, cầu nguyện cho Tổ tiên dòng họ được siêu thăng Tịnh độ, thoát khỏi sự khổ não trong luân hồi lục đạo. Đức Thầy dạy tín đồ hằng nguyện:
“Nguyện đem công quả tu hành,
Cứu trong Tông Tổ vãng sanh liên đài.
Về Phật quốc ngày ngày an lạc,
Cả giống dòng giải thoát luân trầm”.
(Bài nguyện trước bàn thờ Cửu huyền)
TAI ƯƠNG: Tai họa lớn. Đức Thầy có câu:
“Nếu chẳng nghe hồn vướng tai ương,
Chừng ấy mới kêu mời khó rước”.
(Khuyến Thiện Q.5)
KÍP KÍP: Gấp gấp, ý khuyên việc gì cần làm mau, làm gấp mới kịp. Đức Thầy từng khuyên:“Đời cùng tu gấp kịp thì, Đặng xem báu ngọc ly kỳ năm non”.(Sám Giảng, Q.3).
ĐỐI ĐẦU: (Xem chú thích câu 126, Q.1)
GIAN ÁC: Gian trá và hung ác. Phường gian ác. Đức Thầy thường cảnh tỉnh:
“Thương đời văn vật say mê,
Làm điều gian ác thảm thê sau nầy”.(Sám Giảng Q.3)
TIÊU DIỆT: Diệt hết, làm tan mất cả, không để sót lại.
Theo chú giải Sấm Giảng tại đây:
http://www.hoahao.org/D_1-2_2-218_4-3815/phat-giao-hoa-hao.html