Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Lời Vàng: "Trông chúng sanh nghĩ tận đuôi đầu, Về Cực Lạc mới là hết khổ." Đức Thầy
Xem các bài viết
This section allows you to view all posts made by this member. Note that you can only see posts made in areas you currently have access to.
    Messages   Topics Attachments  

  Messages - admin
Trang: 1 ... 15 [16]
151  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / SẤM GIẢNG GIÁO LÝ / Quyển 1: Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm vào lúc: 03/16/09



Download MP3 - Bấm xem folder.

Quyển 1: Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm

Đây là quyển thứ nhứt mà Đức Thầy đã viết trong  khoảng năm Kỷ-Mão (1939) tại Hòa-Hảo (912 câu)

TRANG 1

Hạ ngươn nay đã hết đời,
Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang.
Năm Mèo Kỹ Mão rõ ràng,
Khắp trong trần hạ nhộn nhàng xiết chi.
Ngồi buồn Điên tỏ một khi,
Bá gia khổ não vậy thì từ đây.
Cơ trời thế cuộc đổi xây,
Điên mới theo Thầy xuống chốn phàm gian.
Thấy đời ly loạn bất an,
Khắp trong các nước nhộn nhàng đao binh.
Kẻ thời phụ nghĩa bố kình,
Người thời trung hiếu chẳng gìn vẹn hai.
Nên Điên khuyên nhủ bằng nay,
Xin trong lê thứ ngày rày tỉnh tâm.
Cơ thâm thì họa diệt thâm,
Nào trong sách sử có lầm ở đâu.
Người khôn nghe nói càng rầu,
Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo.
Rồi sau sẽ thấy hùm beo,
Khắp trong bá tánh hiểm nghèo đáng thương.
Điên nầy vưng lịnh Minh Vương,
Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.
Thấy trong bá tánh phàm trần,
Kẻ khinh người nhạo Thần Tiên quỉ tà.

TRANG 2

Mặc ai bàn tán gần xa,
Quỉ của Phật Bà sai xuống cứu dân.
Kẻ xa thì mến đức ân,
Làm cho người gần ganh ghét khinh khi.
Nam mô, mô Phật từ-bi,
Miệng thì niệm Phật lòng thì tà gian.
Khắp trong bá tánh trần hoàn,
Cùng hết xóm làng đều bỉ người Điên.
Chẳng ham danh vọng bạc tiền,
Quyết lòng dắt chúng về miền Bồng Lai.
Điên nầy xưa cũng như ai,
Vào các ra đài tột bực giàu sang.
Nghĩ suy danh lợi chẳng màng,
Bèn lên ẩn dật lâm san tu trì.
Nhờ Trời may mắn một khi,
Thẩn thơ lại gặp Đức Thầy Bửu Sơn.
Cuối đầu Điên tỏ nguồn cơn,
Động lòng bác ái ra ơn dạy truyền.
Thấy Điên tâm tánh quá thiềng,
Nội trong sáu khắc biết liền Thiên cơ.
Chuyện nầy thôi nói sơ sơ,
Để rộng thì giờ nói chuyện chơn tu.
Dương trần kẻ trí người ngu,
Ham võng ham dù danh lợi xuê xang.
Cờ đà đến nước bất an,
Chẳng lo tu niệm tham gian làm gì.
Phật, Trời thương kẻ nhu mì,
Trọng cha, yêu Chúa kính vì tổ tông.
Ngồi buồn nói chuyện bông lông,
Khắp trong trần hạ máu hồng nhuộm rơi.
Chừng nào mới đặng thảnh thơi,
Dậu Phật ra đời thế giới bình yên.
Điên nầy Điên của Thần Tiên,
Ở? trên Non Núi xuống miền Lục Châu.
Đời còn chẳng có bao lâu,
Rán lo tu niệm đặng chầu Phật Tiên.

TRANG 3

Thế gian ít kẻ làm hiền,
Nhiều người tàn bạo làm phiền Hóa Công.
Thế gian chuyện có nói không,
Đến hội Mây Rồng thân chẳng toàn thây.
Việc đời đến lúc cấn gay,
Mà cũng tối ngày nói xéo nói xiên.
Dương trần tội ác liên miên,
Sau xuống huỳnh tuyền Địa ngục khó ra.
Điên nầy nói chuyện gần xa,
Đặng cho lê thứ biết mà lo tu.
Tu cho qua cửa Diêm phù,
Khỏi sa Địa ngục ngao du Thiên đài.
Đường đời chẳng có bao dai,
Nên viết một bài cho bá tánh coi.
Tuồng đời như pháo châm ngòi,
Bá gia yên lặng mà coi Khùng nầy.
Khùng thời ba tớ một Thầy,
Giảng dạy dẫy đầy rõ việc Thiên cơ.
Điên đây còn dại còn khờ,
Yên lặng như tờ coi chúng làm sao.
Bá gia kẻ thấp người cao,
Chừng thấy máu đào chúng mới chịu tu.
Bây giờ giả dại giả ngu,
Cũng như Nhơn Quí ở tù ngày xưa.
Lúc nầy kẻ ghét người ưa,
Bị Điên nói bừa những việc vừa qua.
Dương trần biếm nhẻ gần xa,
Nói quỉ nói tà đây cũng cam tâm.
Ngồi buồn nhớ chuyện xa xăm,
Dạo trong Bảy Núi cười thầm sư mang.
Nói rằng lòng chẳng tham sang,
Sao còn ham của thế gian làm gì ?
Việc nầy thôi quá lạ kỳ,
Cũng trong Phật Giáo sao thì chê khen.
Lúc nầy tâm trí rối beng,
Tiếng huyễn tiếng kèn mặc ý bá gia.
Hết gần rồi lại tới xa,
Dân sự nhà nhà bàn tán cười chơi.

TRANG 4

Chuyện nầy cũng lắm tuyệt vời,
Giả như Hàn Tín đợi thời lòn trôn.
Đến sau danh nổi như cồn,
Làm cho Hạng Võ mất hồn mấy khi.
Chuyện xưa thanh sử còn ghi,
Khen anh Hàn Tín vậy thì mưu cao.
Chuyện đời phải có trước sau,
Điên Khùng khờ dại mà cao tu hành.
Bá gia phải rán làm lành,
Niệm Phật cho rành đặng thấy Thần Tiên.
Thương đời trong dạ chẳng yên,
Khắp trong lê thứ thảm phiền từ đây.
Ngày nay thế cuộc đổi xây,
Rán lo tu niệm đặng Thầy cứu cho.
Mảng theo danh lợi ốm o,
Sẳn của hét hò đứa ở người ăn.
Đừng khi nhà lá một căn,
Mà biết niệm Phật sau bằng bạc muôn.
Giàu sang như nước trên nguồn,
Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.
Cửu Huyền Thất Tổ chẳng thờ,
Để thờ những đạo ngọn cờ trắng phau.
Dương trần bụng dạ nhiều màu,
Thấy cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ suy.
Lời xưa người cổ còn ghi,
Những việc lạ kỳ nay có hay chưa ?
Chưa là với kẻ chẳng ưa,
Chớ người tâm đạo biết thừa tới đâu.
Bá gia mau kíp lo âu,
Để sau đối đầu chẳng đặng toàn thây.
Việc đời nói riết thêm nhây,
Nếu muốn làm Thầy phải khổ phải lao.
Mèo kêu bá tánh lao xao,
Đến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê.
Con ngựa lại đá con dê,
Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao.

TRANG 5

Khỉ kia cũng bị xáo xào,
Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.
Nói ra nước mắt rưng rưng,
Điên biểu dân đừng làm dữ làm hung.
Việc đời nói chẳng có cùng,
Đến sau mới biết đây dùng kế hay.
Bây giờ mắc việc tà tây,
Nên mới làm vầy cho khỏi ngại nghi.
Thiên cơ số mạng biết tri,
Mà sao chẳng chịu chạy đi cho rồi ?
Những người giả đạo bồi hồi,
Còn chi linh thính mà ngồi mà nghe.
Việc đời như nước trong khe,
Nó tưởng đặt vè nói biếm người hung.
Điên nầy nối chí theo Khùng,
Như thể dây dùn đặng cứu bá gia.
Sau nầy kẻ khóc người la,
Vài ba năm nữa biết mà tà tinh.
Điên biết chẳng lẽ làm thinh,
Nói cho bá tánh mặc tình nghe không.
Việc Điên, Điên xử chưa xong,
Lục Châu chưa giáp mà lòng ủ ê.
Người nghe đạo lý thì mê,
Kẻ lại nhún trề nói : Lão kiếm cơm.
Thấy nghèo coi thể rác rơm,
Rồi sau mới biết rác rơm của Trời.
Vì Điên chưa đến cái thời,
Nên còn ẩn dạng cho người cười chê.
Từ đây sắp đến thảm thê,
Con lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng.
Tới chừng đến việc ngóng trông,
Trách rằng Trời Phật không lòng từ bi.
Di Đà lục tự rán ghi,
Niệm cho tà quỉ vậy thì dang ra.
Khuyên đừng xài phí xa hoa,
Ăn cần ở kiệm đặng mà lo tu.

TRANG 6

Đừng khinh những kẻ đui mù,
Đến sau sẽ khổ gấp mười mù đui.
Đời nay xét tới xem lui,
Chừng gặp tuổi Mùi bá tánh biết thân.
Tu hành sau được đức ân,
Nhờ Trời ban bố cho gần Phật Tiên.
Nói ra trong dạ chẳng yên,
Điên gay chèo quế dạo miền Lục Châu.
Tới đâu thì cũng như đâu,
Thêm thảm thêm sầu lòng dạ người xưa.
Bá gia ai biết thì ưa,
Tôi chẳng nói thừa những việc Thiên cơ.
Khi già lúc lại trẻ thơ,
Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.
Đi nhiều càng thảm càng phiền,
Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già.
Tay chèo miệng lại hát ca,
Ca cho bá tánh biết đời loạn ly.
A Di Đà Phật từ bi,
Ở bên Thiên Trước chứng tri lòng nầy.
Từ ngày thọ giáo với Thầy,
Dẹp lòng vị kỷ đầy lòng yêu dân.
Ngày nay chẳng kể tấm thân,
Miễn cho bá tánh được gần Bồng Lai.
Đời nầy vốn một lời hai,
Khắp trong trần hạ mấy ai tu trì.
Đời nầy giành giựt làm chi,
Tới việc ly kỳ cũng thả trôi sông.
Thuyền đưa Tiên cảnh Non Bồng,
Mấy ai mà có thiềng lòng theo đây.
Cứ lo làm việc tà tây,
Bắt ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn.
Chừng đau niệm Phật lăng xăng,
Phật đâu chứng kịp lòng người ác gian.
Thấy đời mê muội lầm than,
Ăn bạ nói càng tội lỗi chỉn ghê.
Chữ tu không phải lời thề,
Mà không nhớ đến đặng kề Tiên bang.

TRANG 7

Nói nhiều trong dạ xốn xang,
Cùng hết xóm làng tàn ác nhiều hơn.
Thầy chùa như thể cây sơn,
Ngoài da coi chắc trong thời mối ăn.
Buồn thay cho lũ ác tăng.
Làm điều dối thế cho hư đạo mầu.
Di Đà Phật Tổ thêm rầu,
Giận trong tăng chúng sao lừa dối dân.
Có thân chẳng liệu lấy thân,
Tu theo lối cũ mau gần DiêmVương.
Bá gia lầm lạc đáng thương,
Nên trước Phật đường thọ lãnh dạy dân.
Dương trần nhiều kẻ ham sân,
Cứ theo biếm nhẽ xa gần người Điên.
Lòng buồn mượn lấy bút nghiên,
Viết cho trần hạ bớt phiền lo tu.
Thương đời chớ chẳng kiếm xu,
Buồn cho bá tánh hết mù tới đui.
Có chi mà gọi rằng vui,
Khắp trong bá tánh gặp hồi gian lao.
Từ đây hay ốm hay đau,
Rán tu đem được Phật vào trong tâm.
Lời hiền nói rõ họa thâm,
Đặng cho bá tánh tỉnh tâm tu hành.
Ngày nay Điên mở đạo lành,
Khắp trong lê thứ được rành đường tu.
Nay đà gần cuối mùa thu,
Hết ngu tới dại công phu gần thành.
Xác trần đạo lý chưa rành,
Mấy ai mà được lòng thành với Điên.
Điên nầy sẽ mở xích xiềng,
Dắt dìu bá tánh gần miền Tiên bang.
Không ham danh lợi giàu sang,
Mong cho bá tánh được nhàn tấm thân.
Thường về chầu Phật tấu trần,
Cầu xin Phật Tổ ban lần phước ơn.
Nay đà bày tỏ nguồn cơn,
Cho trong trần hạ thiệt hơn tỏ tường.

TRANG 8

Phật, Trời thấy khổ thời thương,
Muốn cho lê thứ thường thường làm nhơn.
Đừng ham tranh đấu thiệt hơn,
Tu niệm chớ sờn uổng lắm dân ôi !
Hồng trần biển khổ thấy rồi,
Rán tu nhơn đạo cho tròn mới hay.
Đừng ham nói đắng nói cay,
Cay đắng sau nầy đau đớn, sầu bi.
Tu hành tâm trí rán trì,
Sau nầy sẽ thấy việc gì trên mây.
Đừng làm tàn ác ham gây,
Sẽ có người nầy cứu vớt giùm cho.
Dương trần lắm chuyện đôi co,
Phải dẹp vị kỷ mà lo tu hành.
Kệ kinh tưởng niệm cho sành,
Ngày sau thấy Phật đành rành chẳng sai.
Lúc nầy thế giới bi ai,
Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm.
Mấy lời khuyên nhủ chẳng lầm,
Từ đây đạo hạnh được mầm thanh cao.
Hồng trần lao khổ xiết bao,
Khuyên trong lê thứ bước vào đường tu.
Xưa nay đạo hạnh quá lu,
Ngày nay sáng tỏ đền bù ngày xưa.
Mặc tình kẻ ghét người ưa,
Điên chẳng nói thừa lại với thứ dân.
Quan trường miệng nói vang rân,
Mà tâm dính chặt hồng trần bụi nhơ.
Buồn đời nên mới làm thơ,
Cũng còn tai lấp mắt ngơ mới kỳ.
Người đời lòng dạ bất tri,
Trông cho làm bịnh dị kỳ nó coi.
Dương gian chậu úp được voi,
Giấu đầu rồi lại cũng lòi sau đuôi.
Nói nhiều mà dạ chẳng nguôi,
Việc tu bá tánh bắn lùi như tôm.
Tưởng Phật được lúc đầu hôm,
Đêm khuya muốn giựt nồi cơm của người.

TRANG 9

Thế-gian nhiều việc nực cười,
Tu hành chẳng chịu, lo cười lo khinh.
Người già ham muốn gái xinh,
Đến sau chẳng biết thân mình ra sao ?
Xác thân cọp xé beo quào,
Còn người tàn bạo máu đào tuôn rơi.
Tu hành hiền đức thảnh thơi,
Ngay cha thảo Chúa Phật, Trời cứu cho.
Bá gia hãy rán mà lo,
Kiếm Lão Đưa Đò nói chuyện huyền cơ.
Bấy lâu chẳng biết làm thơ,
Nay viết ít tờ trần hạ tỉnh tâm.
Đến sau khổ hạnh khỏi lâm,
Nhờ công tu niệm âm thầm quá hay.
Chừng nào chim nọ biếng bay,
Cá kia biếng lội khổ nầy mới yên.
Nhắc ra quá thảm quá phiền,
Bể khổ gần miền mà chẳng chịu tu.
Ngọn đèn chơn lý hết lu,
Khắp trong lê thứ ao tù từ đây.
Thấy trong thời cuộc đổi xây,
Đời nay trở lại khác nào đời Thương.
Nhắc ra thêm ghét Trụ Vương,
Ham mê Đắc Kỷ là phường bội cha.
Hết gần Điên lại nói xa,
Nói cho bá tánh biết mà người chi.
Lời lành khuyên hãy gắn ghi,
Dương-trần phải rán tu trì sớm khuya.
Đừng ham làm chức nắc nia,
Ngày sau như khóa không chìa dân ôi !
Tu hành như thể thả trôi,
Nay lở mai bồi chẳng có thiềng tâm.
Mưu sâu thì họa cũng thâm,
Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.
Hùm beo tây tượng bộn bề,
Lại thêm ác thú mãng xà, rít to.

TRANG 10

Bá gia ai biết thì lo,
Gác tai gièm xiểm đôi co ích gì !
Hết đây rồi đến dị kỳ,
Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.
Dân nay như thể không cha,
Chẳng ai dạy dỗ thiệt là thảm thương.
Thứ nầy đến thứ Minh-Vương,
Nơi chốn Phật đường mặt ngọc ủ ê.
Cám thương trần hạ nhiều bề,
Bởi chưng tàn bạo khó kề Phật Tiên.
Chúng ham danh lợi điền viên,
Ngày sau đến việc lụy phiền suốt canh.
Kệ kinh tụng niệm đêm thanh,
Ấy là châu ngọc để dành ngày sau.
Bây giờ chưa biết vàng thau,
Đời sau kính trọng người cao tu hành.
Nam mô miệng niệm lòng lành,
Bá gia phải rán biết rành đường tu.
Thương ai ham võng ham dù,
Cũng như những kẻ đui mù đi đêm.
Khuyên đời như vá múc thêm,
Mảng lo tranh đoạt thù hềm với nhau.
Đến chừng có ốm có đau,
Vang mồm niệm Phật, Phật nào chứng cho.
Dương trần tiếng nhỏ tiếng to,
Nói ngỗng nói cò đây cũng làm thinh.
Tưởng rằng thân nó là vinh,
Chẳng lo tu niệm cứ ghình với Điên.
Nói ra trong dạ chẳng yên,
Bây giờ nói chuyện cởi thuyền khuyên dân.
Đêm ngày chẳng nại tấm thân,
Nắng mưa chẳng quản tảo tần ai hay.
Chừng nào đến hội Rồng Mây,
Người đời mới biết Điên nầy là ai.
Lui thuyền chèo quế tay gay,
Thuyền đi nước ngược đến rày cù lao.

TRANG 11

Xa xa chẳng biết làng nào,
Thiệt làng Long Khánh ít người nào tu.
Tớ Thầy liền giả đui mù,
Bèn đi ca hát kiếm xu dương trần.
Bá gia tựu lại rần rần,
Trong nửa ngày trần chẳng có đồng chi.
Nực cười trần hạ một khi,
Ở một đêm thì sáng lại qua sông.
Bình minh vừa buổi chợ đông,
Bày trò bán thuốc hát ròng đời nay.
Cho thiên hạ tựu đông vầy,
Rồi mới ra bài hát việc Thiên cơ.
Tới đây bá tánh làm ngơ,
Buồn cho lê thứ kịp giờ ra đi.
Lìa xa Hồng Ngự một khi,
Thẳng đường trực chỉ Điên đi Tân Thành.
Tới đây ra mặt người rành,
Nói chuyện thiệt sành thông lảu Đạo nho.
Nhiều người xúm lại đôi co,
Chê lão đưa đò mà biết việc chi.
Thấy đời động tánh từ bi,
Điên chẳng bắt tì còn mách việc xa.
Khoan khoan chơn nọ bước ra,
Giáp rạch Cả Cái rồi ra ngoài vàm.
Đoái nhìn mây nọ trắng lam,
Điên ra sức lực chèo chơi một giờ.
Xa nhìn sương bạc mờ mờ,
Tân An làng nọ dân nhờ bắp khoai.
Giả người bán cá bằng nay,
Dân chúng ngày rày xúm lại mua đông.
Tới lui giá cả vừa xong,
Điên cũng bằng lòng cân đủ cho dân.
Có người chẳng chịu ngang cân,
Bỏ thêm chẳng bớt mấy lần không thôi.
Nực cười trần hạ lắm ôi !
Giảng cho bá tánh một hồi quá lâu.

TRANG 12

Thân già thức suốt canh thâu,
Nói cho lê thứ quày đầu mới thôi.
Nhiều người nghe hết phủi rồi,
Quày thuyền trở lại bồi hồi sầu bi.
Giả người tàn tật một khi,
Xuống vàm kinh Xáng được thì chút vui.
Một người nhà lá hẩm hui,
Mà biết đạo lý mời Cùi lên chơi.
Bàn qua kim cổ một hồi,
Cùi xuống giữa vời Châu Đốc thẳng xông.
Đến nơi thiên hạ còn đông,
Giả gái không chồng đi bán cau tươi.
Thấy dân ở chợ nực cười,
Xúm nhau trêu ghẹo đặng cười Gái Tơ.
Buồn đời lăng mạ ngẩn ngơ,
Biến mất lên bờ liền giả cùi đui.
Phố phường nhiều kẻ tới lui,
Thấy kẻ Đui Cùi chẳng muốn ngó ngang.
Đời nay quý trọng người sang,
Giả ra gây lộn nói toàn tiếng Tây.
Tây, Nam, Chà, Chệt, chú, thầy,
Nó thấy làm vầy chẳng bắt ngại nghi.
Xuống thuyền quày quả một khi,
Chèo lên Vĩnh Tế vô thì núi Sam.
Đi ngang chẳng ghé chùa am,
Xuôi dòng núi Sập đặng làm người ngu.
Xem qua đầu tóc u xù,
Cũng như người tội ở tù mới ra.
Chèo ghe rao việc gần xa,
Bồng Lai Tiên cảnh ai mà đi không ?
Nhiều người tâm đạo ước mong,
Nếu tôi gặp được như rồng lên mây.
Ấy là tại lịnh Phương Tây,
Cho kẻ bạo tàn kiến thấy Thần Tiên.
Có người nói xéo nói xiên,
Chú muốn kiếm tiền nói gạt bá gia.

TRANG 13

Thoáng nghe lời nói thiết tha,
Rưng rưng nước mắt chèo về Mặc Dưng.
Tay chèo miệng cũng rao chừng,
Đường đi Tiên cảnh ai từng biết chưa ?
Khúc thời nhắc lại đời xưa,
Lúc chàng Lý Phủ đổ thừa Trọng Ngư.
Nhà anh có của tiền dư,
Sao chẳng hiền từ thương xót bá gia ?
Bấy giờ gặp việc thiết tha,
Bạc vàng có cứu anh mà hay không ?
Hết tây Điên lại nói đông,
Có ai thức tỉnh để lòng làm chi !
Mặc Dưng mất dạng Từ Bi,
Thuyền đi trở ngược về thì Vàm Nao.
Dòm xem thiên hạ lao xao,
Không ghé nhà nào cũng gọi vài câu.
Con sông nước chảy vòng cầu,
Ngày sau có việc thảm sầu thiết tha.
Chừng ấy nổi dậy phong ba,
Có con nghiệt thú nuốt mà người hung.
Đến chừng thú ấy phục tùng,
Bá gia mới biết người Khùng là ai.
Bây giờ phải chịu tiếng tai,
Giảng Đạo tối ngày mà chẳng ai nghe.
Đời như màn nọ bằng the,
Hãy rán đọc vè của kẻ Khùng Điên.
Khỏi vàm Điên mới quày thuyền,
Xuống miền Cao Lãnh lại phiền lòng thêm.
Tới đây ca hát ban đêm,
Ai có thù hềm chửi mắng cũng cam.
Cho tiền cho bạc chẳng ham,
Quyết lòng dạy dỗ dương trần mà thôi.
Nghe rồi thì cũng phủi rồi,
Nào ai có biết đây là người chi.
Trở về Phong Mỹ một khi,
Thuyền đi một mạch tới thì Rạch Chanh.

TRANG 14

Ghe chèo khúc quẹo khúc quanh,
Ở đây có một người lành mà thôi.
Nhắc ra tâm trí bồi hồi,
Khó đứng khôn ngồi thương xót bá gia.
Kiến Vàng làng nọ chẳng xa,
Kíp mau tới đó vậy mà thử coi.
Xứ nầy nhà cửa ít oi,
Mà trong dân sự nhiều người chơn tu.
Thấy người đói rách xin xu,
Ra tay cứu vớt đui mù chẳng chê.
Khỏi đây đến chổ bộn bề,
Rõ ràng Bến Lức đã kề bên ghe.
Giả Người Tàn Tật đón xe,
Rồi lại nói vè ròng việc Thiên cơ.
Hết vè rồi lại nói thơ,
Làm cho bá tánh ngẩn ngơ trong lòng.
Thơ vè Điên đã nói xong,
Đi luôn Ba Cụm kẻo lòng ước mơ.
Tới đây dẹp hết vè thơ,
Giả Người bán mắm quá khờ quá quê.
Chợ nầy thiên hạ bộn bề,
Kẻ nhún người trề chê mắm chẳng ngon.
Bạn hàng tiếng nói quá dòn :
Giá nầy chẳng bán còn chờ chuyện chi ?
Bưng thời kẻ níu người trì :
Ở đây không bán chị thì đi đâu ?
Dứt lời rồi lại câu mâu,
Mắng : con đĩ chó khéo hầu làm khôn !
Muốn làm cho có người đồn,
Biến mất xác hồn cho chúng chỉn ghê.
Nói ra thêm thảm thêm thê,
Ông Lãnh dựa kề giả bán trầu cau.
Bạn hàng xúm lại lao xao :
Ông bán giá nào nói thử nghe coi ?
Trầu thời kẻ móc người moi,
Còn cau bẻ giấu thấy lòi tánh tham.
Thấy già bán rẻ nó ham,
Bị thêm quê dốt nó làm thẳng tay.
Ghe người biến mất bằng nay.
Cho chúng biết tài của kẻ Thần Tiên.
Bến Thành đến đó đậu liền,
Gặp hai thằng lính tra liền thuế thân.
Tớ Thầy nói chuyện cân phân :
Mới lỡ một lần xin cậu thứ tha.
Hai người tôi ở phương xa,
Bởi chưng khổ não mới là nổi trôi.
Lính nghe vừa dứt tiếng rồi,
Khoát nạt mới bắt giam.
Thấy đời trong dạ hết ham,
Ghe người biến mất coi làm chi đây.
Tức thời Điên giả làm thầy,
Đi coi đi bói khắp trong phố phường.
Có người tu niệm đáng thương,
Điên mới chỉ đường Tịnh Độ vãng sanh.
Dạo cùng khắp cả Sài Thành,
Khi ca khi lý nói rành Thiên cơ.
Bá gia bá tánh làm ngơ,
Tưởng như những kẻ làm thơ kiếm tiền.
Văn minh trọng bạc trọng tiền,
Khôn ngoan độc ác làm phiền người xưa.
Mặc ai ghét ghét ưa ưa,
Chẳng dám nói bừa cho bá tánh nghe.
Phiền ba ngựa ngựa xe xe,
Điên giả người què Gia Định thẳng xông.
Què nầy đường xá lảu thông,
Khắp trong thiềng thị rồi thì nhà quê.
Kêu cơm bá tánh nghe ghê,
Thêm nói bộn bề những việc về sau.
Dương trần bàn tán thấp cao,
Chẳng biết người nào rõ việc tiên tri.
Giã từ Gia Định một khi,
Thuyền loan trực chỉ đến thì Cần Thơ.

TRANG 15

Tới đây giả Kẻ Quá Khờ,
Vợ điên chồng lại đứng hờ một bên.
Phố phường xóm dưới đầu trên,
Cùng người đi chợ xúm nhau reo cười.
Thị thiềng hiền đức được mười,
Phần nhiều xúm lại chê cười người điên.
Vợ thời ca hát huyên thiên,
Chồng chẳng có tiền lại quán xin cơm.
Bá gia coi thể rác rơm,
Ai cũng sẳn hờm đặng có ghẹo chơi.
Điên mà ca hát việc đời,
Với việc hiện thời khổ nảo A?Châu.
Chạy cùng chẳng sót đâu đâu,
Lòng quá thảm sầu lìa lại Vĩnh-Long.
Chợ quê giảng dạy đã xong,
Thuyền loan trực chỉ đến rày Bến Tre.
Chợ nầy đậu tại nhà bè,
Giả chị bán chè dạo khắp các nơi.
Giọng rao rặt tiếng kim thời,
Rước rước mời mời anh chị mua ăn.
Trẻ già qua lại lăng xăng,
Nói nói rằng rằng những việc bướm ong.
Gánh chè bán hết vừa xong,
Điên cũng nói ròng chuyện khổ về sau.
Nói rồi chơn bước mau mau,
Lìa xa thiềng thị đến thì thôn quê.
Đi đâu cũng bị nhún trề,
Kẻ lại chưởi thề nói : lũ bá-vơ.
Thấy đời tai lấp mắt ngơ,
Lúc ở trên bờ khi lại đi ghe.
Dạo cùng khắp tỉnh Bến Tre,
Đủ bực thơ vè lìa lại TràVinh.
Tới đây bày đặt hát kình,
Đua nhau bán thuốc mặc tình nghe không.
Nói ra những chuyện bông lông,
Trách trong lê thứ không lòng từ bi.

TRANG 16

Gặp người đói khó khinh khi,
Điền-viên sự sản ai thì làm cho.
Dạy rồi thuyền lại Mỹ Tho,
Khuyên trong trần hạ rán lo tu trì.
Xưa nay không có mấy khi,
Dương trần có Phật vậy thì xuống đây.
Chợ quê giáp hết thuyền quay,
Đi trở lộn về O? Chưởng giảng dân.
Quản chi nắng Sở mưa Tần,
Chèo xuôi chèo ngược mấy lần không thôi.
Thảm thương bá tánh lắm ôi !
Bồng Lai Tiên cảnh rao rồi một khi.
Nếu ai rảnh việc thì đi,
Còn mắc nợ thì ở lại dương gian.
Có người xưng hiệu ông Quan,
Tên thiệt Vân Trường ở dưới dinh Ông.
Thấy đời cũng bắt động lòng,
Ghé vào tệ xá thẳng xông lên nhà.
Mình người tu niệm vậy mà,
Nói chi lớn tiếng người mà khinh khi.
Người nhà cảm tạ một khi,
Cúng năm cắc bạc tiền đi Non Bồng.
Xuống thuyền xuôi nước thẳng xông,
Ghé nhà chủ Phối xem lòng Đạo Ba.
Ngồi chơi đạo lý bàn qua,
Mấy bà có biết lúa mà bay không ?
Có người đạolý hơi thông,
Xin ông bày tỏ cho tôi hiểu rày.
Điên nghe liền mới tỏ bày :
Lúa bay về núi dành rày ngày sau.
Hỏi qua tu niệm âm hao,
Không biết câu nào trái ý Đạo Ba.
Buồn đời Điên mới bước ra,
Tay gay chèo quế dạo thì khắp nơi.
Đi hoài chẳng có nghỉ ngơi,
Miệng cũng rao mời Tiên cảnh Bồng Lai.

TRANG 17

Có người xuống bến bằng nay,
Mách chơi ít tiếng người rày mạng vong.
Nhà ngươi thiệt chẳng có lòng :
Đòi đã hai lần sao chẳng chịu đi ?
Thương đời ta luống sầu bi,
Đò đi tới chốn ăn thì bao nhiêu ?
Điên rằng tôi chẳng ham nhiều,
Bao nhiêu tự ý cho nhiều chẳng ham.
Điên nầy bụng chẳng có tham,
Ghe đã chở đầy chật nứt trong mui.
Già đây cũng chở cầu vui,
Vậy chú hãy ngồi ngay chổ sau đây.
Thấy người lòng dạ tà tây :
Thân tôi làm vầy ông chẳng cho vô ?
Trong mui đã mát lại khô,
Tôi có đủ tiền mà trả cho ông.
Trong mui dòm thấy trống không,
Bước nhầu vào đó máu hồng trào ra.
Cho người hung bạo biết ta,
Thuyền người biến mất vậy mà còn chi.
Trở lên Chợ Mới một khi,
Chèo lên chèo xuống vậy thì cũng rao.
Năm xưa đây có máu đào,
Mà nay chưa có người nào chơn tu.
Nào Điên có muốn kiếm xu,
Mà trong trần hạ đui mù không hay.
Hỏi ông người ở đâu rày,
Trả lời rằng ở non cày vua Nghiêu.
Tới đây trong dạ buồn hiu,
Bỏ ghe Điên cũng đánh liều chưa thôi.
Giả ra một kẻ hàn nồi,
Khắp trong hàng xóm đi rồi sạch trơn.
Tới đâu cũng tỏ thiệt hơn,
Nhà tôi vốn thiệt có đờn năm dây.
Tôi còn mắc cái nợ nầy,
Nên mới làm vầy cho giải quả căn.

TRANG 18

Nhà tôi đâu phải khó khăn,
Đem theo trong xách bạc hằng tám mươi.
Nhiều người nghe nói reo cười,
Thân tôi lao lý ai cười tôi chi ?
Giã từ Chợ Mới một khi,
Thuyền đi xuôi ngược đến thì Ba Răng.
Ít ai biết được đạo hằng,
Ghé am thầy pháp nói rằng lỡ chơn.
Trước sau bày tỏ nguồn cơn,
Vì thương lê thứ chi sờn lòng đây.
Có người lối xóm muốn gây,
Xin sáu trái bắp liền quày xuống ghe.
Ghe Điên vốn thiệt ghe be,
Mà lại Điên nhè nước ngược thẳng xông.
Ra oai thuyền chạy như dông,
Người nhà xuống bến trong lòng ngại nghi.
Ông nầy chẳng biết người chi,
Chèo quế vậy thì mạnh bạo quá tay.
Thần Tiên mà chẳng ai hay,
Cứ biếm nhẻ hoài buồn dạ Người Xưa.
Đời nay mỏng tợ màn thưa,
Khuyên trong lê thứ chẳng thừa một câu.
Thân nầy chẳng nệ mau lâu,
Miễn cho bá tánh gặp chầu vinh huê.
Thương trong trần hạ thảm thê,
Lao khổ nhiều bề chớ chẳng còn vui.
Nhiều người nghèo khổ hẩm hui,
Không đất cắm dùi mà chẳng ai thương.
Con thuyền đang lướt gió sương,
Bỗng nghe tiếng khóc tư lương ai hoài.
Có người ở xóm bằng nay,
Bị mất trộm rày đồ đạc sạch trơn.
Du thần bày tỏ nguồn cơn :
Rằng người nghèo khó đương hờn phận duyên.
Điên nghe vội vã quày thuyền,
Dùng khoa coi bói giải phiền phàm nhơn.

TRANG 19

Coi rồi bày tỏ thiệt hơn,
Khuyên cô đừng giận đừng hờn làm chi.
Rồi đi dạo xóm một khi,
Đi lên nhà thì giã gạo mà chơi.
Vào nhà nói chuyện một hơi,
Gặp người bán thuốc cũng thời ghé vô :
Mua một ve uống hỡi cô,
Uống vô bổ khỏe trị nhiều chứng phong.
Uống thì pha nước nóng trong,
Chớ đừng pha rượu nó hòng kỵ thai.
Hai thằng ở xóm bằng nay,
Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay.
Người cha đi lại thấy rầy :
Thiệt mấy đứa nầy cãi cọ làm chi.
Bước ra nhà nọ một khi,
Đi lên đi xuống kiếm thì xe lôi.
Gặp xe chẳng có lên ngồi,
Chạy trước đi rồi ngừng lại chỗ kia.
Xóm nầy kẻ ghét người ưa,
Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng.
Nhổ rồi lui tới lăng-xăng,
Liền bước xuống thuyền Thầy Tớ thả trôi.
Vàm Nao rày đã đến rồi,
Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ Đình.
Hát hai câu hát huê tình,
Đậu xem dân chúng Chợ Đình làm sao.
Sáng ngày chợ nhóm lao xao,
Giả bận áo màu ai cũng dòm xem.
Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,
Đứng xa quanh quẩn nói gièm với nhau.
Đứa nầy nói để cho tao,
Đứa kia xạo xự áo màu quá ngon.
Nhắc ra động tấm lòng son,
Buồn cho lê thứ sao còn ham vui.
Ở đây một buổi ghe lui,
Về trên Bảy Núi ngùi ngùi thương dân.

TRANG 20

Thầy Trò chẳng nại tấm thân,
Rảo khắp Non Tần bận nữa thử coi.
Chơn tu thì quá ít oi,
Nhiều người ẩn sĩ quá lòi tánh tham.
Đi lần ra đến núi Sam,
Đến nơi rảo khắp chùa am của người.
Dạy rồi bắt quá tức cười,
Thầy tu nhiều kẻ biếng lười quá tay.
Trẻ già biến hóa ai hay,
Dạo trong Bảy Núi chẳng nài công lao.
Rú rừng lúc thấp lúc cao,
Giả ra nghèo khó vào nhiều am vân.
Tu hành nhiều kẻ tham sân,
Làm sao cho đặng mau gần Phật Tiên.
Ai ai cũng cứ ham tiền,
Ấy là đem sợi xích xiềng trói thân.
Lìa xa Bảy Núi lần lần,
Xuống thuyền trực chỉ đến gần Hà Tiên
Đến đây giả Kẻ không tiền,
Rảo khắp thị thiềng xin xỏ bá-gia.
Đi rồi cũng quá thiết tha,
Trở về non cũ đặng mà dạo chơi.
Non Tiên gió mát thảnh thơi,
Nhưng nhớ việc đời lụy ngọc nhỏ sa.
Xuống trần lúc hát lúc ca,
Mà trong lê thứ có mà biết chi.
Nam-mô hai chữ từ-bi,
Trần-hạ nói gì đây cũng làm thinh.
Tu thời nhàn hạ thân mình,
Phần Điên khuyên nhủ mặc tình ghét ưa.
Thiên-cơ ai dám nói thừa,
Mà trong bá-tánh chẳng ưa Điên Khùng.
Xuống thuyền chèo quế thung-dung,
Đi dạy đủ chỗ khắp cùng thử coi.
Rạch-Giá chợ nọ thoi-loi,
Gần nơi ven biển cá mòi nhiều hơn.

TRANG 21

Tới đây giả kẻ có cơn,
Khi say khi tỉnh lúc hờn số căn.
Dương-trần đi lại lăng xăng,
Chê chê nhạo nhạo cười rằng quân điên.
Ở đâu mà tới thị-thiềng,
Lính chẳng bắt xiềng nó lại bót đi.
Lòng thương vì tánh từ-bi,
Dạy dỗ chuyện cùng mà chẳng ai nghe.
Dạy rồi Điên lại xuống ghe,
Long-Xuyên, Sa-Đéc nói ròng vè thơ.
Vợ chồng nghèo khổ bơ vơ.
Ở nơi giữa chợ lại khờ lại quê.
Buồn trong lê-thứ ủ ê,
Sóc-Trăng chợ ấy thuyền kề đến nơi.
Đến đâu thì cũng tả tơi,
Nói rõ việc đời sắp khổ sắp lao.
Thị-thiềng thiên-hạ lao-xao,
Chẳng có người nào tu-niệm hiền-lương.
Thấy trong trần-hạ thảm thương,
Đâu có biết đường chơn chánh mà đi.
Lìa xa đô-thị một khi,
Thuyền loan trực-chỉ đến thì Bạc-Liêu.
Chợ nầy tàn ác quá nhiều,
Phố-phường dân Thổ dân Tiều nhiều hơn.
Đi cùng thành-thị ráo trơn,
Cà-Mau đến đó thiệt hơn tỏ bày.
Cho trong bá-tánh chợ nầy,
Rõ việc dẫy đầy lao lý về sau.
Đường đi lao-khổ sá bao,
Miễn cho trần-hạ biết vào đường tu.
Tu hành đâu có tốn xu,
Mà sau thoát khỏi lao tù thế-gian.
Thầy Trò lắm cảnh gian-nan,
Chừng nào hết khổ mới an tấm lòng.
Đằng-vân đến tỉnh Gò-Công,
Vì thương dân-thứ mới hòng đến đây.

TRANG 22

Xưa kia bão lụt tỉnh nầy,
Mà sau cảnh khổ xứ nầy gần hơn.
Yêu dân lòng nọ chẳng sờn,
Thầy hát Tớ đờn dạy cũng khắp nơi.
Khỏi đây Bà-Rịa tách vời,
Đến đó vậy thời trời mới sáng ra.
Chợ nầy đông đúc người ta,
Nhiều đuông chà-là lại với nho tươi.
Đến đây Thầy Tớ hóa mười,
Nói nói cười cười bán thuốc Sơn Đông.
Ai ai đều cũng ngóng trông,
Coi lũ khách nầy hát thuật làm sao.
Hát mà trong bụng xáo xào,
Nói chuyện bên Tàu máu đổ tuôn rơi.
Cả kêu dân chúng hỡi ôi,
Sao không thức tỉnh việc đời gần bên.
Khổ đà đi đến như tên,
Rán lo tu niệm tìm nền vinh-hoa.
Vinh nầy của Đức Phật Bà,
Của Ông Phật Tổ ban mà cho dân.
Tu cho nhàn toại tấm thân,
Đừng làm tàn ác xa lần Tiên bang.
Hát kêu bớ kẻ giàu sang,
Rán lo làm phước làm doan mới là.
Đến lâm cảnh khổ có Ta,
Với lịnh Phật Bà cứu vớt giùm cho.
Tu hành phải rán trì mò,
Gặp Lão Đưa Đò đừng có khinh-khi.
Dạy rồi Thầy Tớ liền đi,
Biên-Hòa đến đó vậy thì xem qua.
Đến đây dạy-dỗ gần xa,
Khuyên trong bá-tánh vậy mà tỉnh tâm.
Ngày nay gặp Bạn Tri-Âm.
Rán mà trì chí đặng tầm huyền-cơ.
Tân-An dạy-dỗ kịp giờ,
Chẳng dám chần chờ đi thẳng Tây-Ninh.

TRANG 23

Tới đây vừa lúc bình-minh,
Điên ra sức giảng mặc tình nghe không.
Giảng rồi Dầu-Một thẳng xông,
Thiềng-thị giáp vòng thứ chót là đây.
Thương dân giảng dạy dẫy đầy,
Rảo khắp tối ngày chẳng có nghỉ chơn.
Nhiều người hung-ác quá chừng,
Không biết đời khổ lo mừng lo vui.
Nhắc ra dạ nọ nào nguôi,
Từ đây Lục-tỉnh đui cùi thiếu chi.
Nói mà trong dạ sầu-bi,
Bá-gia chậm chậm khinh khi Điên nầy.
Đừng ham nói nọ nói nầy,
Lặng yên coi thử Điên nầy là ai.
Cảm thương Ông Lão Bán Khoai,
Vì yêu dân-chúng chẳng nài nắng mưa.
Câu này nhắc chuyện năm xưa,
Khuyên trong trần-hạ hãy chừa lòng tham.
Khùng thời quê ngụ núi Sam,
Còn Điên chẳng có chùa am dưới nầy.
Vua Nghiêu xưa mở đất cày,
Ngày nay nhường lại cảnh nầy cho Điên.
Xuống trần day-dỗ huyên-thiên,
Dạy rồi thì lại thảm-phiền nhiều hơn.
Cầu xin Phật-Tổ ra ơn,
Lời Điên khuyên nhủ như đờn Bá-Nha.
Thị-thiềng khắp hết gần xa,
Từ đây sắp đến quê nhà Điên đi.
Đừng thấy ngu dại mà khi,
Thầy thì Huệ-Lựu, Tớ thì Huệ-Tâm.
Đời cùng còn chẳng mấy năm,
Khắp trong các nước thây nằm bằng non.
Cha thì chẳng thấy mặt con,
Vợ thì chồng chẳng được còn tại gia.
Khuyên trong lê-thứ trẻ già,
Tu hành hiền đức Phật mà cứu cho.

TRANG 24

Ấy là quý báu thơm tho,
Đừng ham gây-gổ nhỏ to làm gì.
Con thì ăn ở nhu mì,
Học theo luân-lý kính vì mẹ cha.
Sau nầy sấu bắt hùm tha,
Xử người tàn-bạo vậy mà tại đây.
Đời xưa quả-báo thì chầy,
Đời nay quả-báo một giây nhãn tiền.
Dương-trần phải rán làm hiền,
Đừng trọng bạc tiền bỏ nghĩa bỏ nhân.
Người hung phải sửa cái thân,
Từ đây có kẻ Du-Thần xét soi.
Chuyện người chớ móc chớ moi,
Hãy treo gương thiện mà soi lấy mình.
Ai thương ai ghét mặc tình,
Phận mình cứ giữ tâm mình cho ngay.
Điên đây vưng lịnh Phương Tây,
Hầu hạ bên Thầy đặng cứu bá-gia.
Thấy đời lòng dạ tây-tà,
Cứ theo chế nhạo cười mà người Điên.
Ngồi buồn kể chuyện huyên-thiên,
Chẳng có ham tiền cũng bị ghét vơ.
Viết cho bá-tánh ít tờ,
Đi làm ruộng rẫy bỏ hờ theo xem.
Thương người nghèo khổ lấm-lem,
Thấy cảnh sung-sướng nó thèm quá tay.
Ai mà biết đặng ngày mai,
Ngày nay yên-tịnh ngày mai thảm-sầu.
Từ rày gặp cảnh buồn rầu,
Cho người tàn-bạo cứng đầu khinh-khi.
Dương-trần nay đáng sầu-bi,
Nên Điên mới nói chuyện ni tỏ tường.
Đêm ngày tưởng Phật cho thường,
Phải rán lo-lường kim-chỉ từ đây.
Thương đời Điên mới tỏ bày,
Dạy trong trần-hạ ngày rày rán nghe.

TRANG 25

Đừng khi nhà lá chòi tre,
Nhà săng cột lớn bù-xè hay ăn.
Lúc nầy Điên mắc lăng-xăng,
Dương-trần biết đặng đạo-hằng mới thôi.
Chẳng ham cúng kiếng chè xôi,
Phật Trời chẳng muốn điều tồi ấy đâu.
Muốn cho dân hiểu Đạo-mầu,
Chớ không có muốn chùa lầu cho cao.
Bao nhiêu cũng biết vàng thau,
Dạy khôn trần-thế chớ nào dạy ngu.
Sáng ngày con chó sủa tru,
Chừng heo cắn ổ hiềm-thù mới yên.
Đừng ham giành-giựt của tiền,
Người hung hay gọi kẻ hiền rằng ngu.
Nay Điên chỉ rõ đường tu,
Ấy là đủ việc tài bù cho dân.
Thôi thôi nói riết dần lân,
Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên.

NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT
 

BỬU châu công luyện chốn non Tần,
SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

-- Hết Sấm Giảng quyển I --
152  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / SẤM GIẢNG GIÁO LÝ / Quyển 2: Kệ Dân Của Người Khùng vào lúc: 03/16/09





Quyển 2: Kệ Dân Của Người Khùng

Đây là quyển thứ nhì mà Đức Thầy đã viết ngày 12 tháng 9 năm Kỷ-Mão (1939) tại Hòa-Hảo (476 câu)

        TRANG 1


Ngồi khùng trí đoái nhìn cuộc thế,
Thấy dân mang sưu thuế mà thương.
Chẳng qua là Nam Việt vô vương,
Nên tai ách xảy ra thảm thiết.
Bạc không cánh đổi thay chẳng biết,
Vàng vị nghèo mấy chiếc chẳng còn.
Mới mấy năm sao quá hao-mòn,
Mùa màng thất, đói đau không thuốc.
Thương hại bấy lê dân đứt ruột,
Thảm vợ con đói rách đùm đeo.
Gẫm chữ nghèo thường mắc chữ eo,
Thêm gạo lúa lại tăng giá mắc.
Nhìn cuộc thế đổi thay quá gắt,
Máy Thiên cơ mỗi phút mỗi thay.
Nẻo thạnh suy như thể tên bay,
Đường vinh nhục rủi may một lát.
Ai phú quí vào đài ra các,
Ta Điên Khùng thương hết thế trần.
Khuyên chúng sanh chẳng biết mấy lần,
Nào ai có tỉnh tâm tìm Đạo.
Trai trung liệt đáng trai hiền thảo,
Gái tiết trinh mới gái Nam trào.
Lời Thánh Hiền để lại biết bao,
Sao trai gái chẳng coi mà sửa ?
Đời tận thế mà còn lần lựa,
Chẳng chịu mau cải dữ về lành.
Làm Phật Nhi phải được lòng thành,
Thì mới đặng vãng-sanh Cực Lạc.
Tương với muối cháo rau đạm bạc,
Nghèo lương hiền biết niệm Di-Đà.
Mà mai sau thoát khỏi tinh ma,
Lại được thấy cảnh Tiên nhàn hạ.
Trên Bảy Núi còn nhiều báu lạ,
Rán tu tâm dưỡng tánh coi đời.
Coi là coi được Phật được Trời,
Coi phép lạ của Tiên của Thánh.
Cuộc dương thế ngày nay mỏng mảnh,
Mà sang giàu còn hiếp nghèo nàn.
Phải xả thân tầm Bát Nhã thoàn,
Sau mới khỏi hùm tha sấu bắt.
Đến chừng đó bốn phương có giặc,
Khắp hoàn cầu thiết thiết tha tha.
Vậy sớm mau kiếm chữ Ma Ha,
Thì Phật cứu khỏi nơi khói lửa.
Tưởng nhớ Phật như ăn cơm bữa,
Vọng Cửu Huyền sớm tối mới mầu.
Chữ Nam Mô dẹp bớt lòng sầu,
Sau được thấy nhà Tiên cửa Thánh.
Ghét những đứa giàu sang kiêu hãnh,
Thương những người đói rách cơ hàn.
 

        TRANG 2


 Cảnh phồn hoa khó sánh lâm san,
Sau sẽ có nhiều điều vinh hạnh.
Cõi trần thế hết suy tới thạnh,
Hết lâm nguy đến lúc khải hoàn.
Tuy tu hành chịu chữ nghèo nàn,
Sau đắc đạo gặp điều cao quí.
Mặc bá tánh đời nầy dị nghị,
Ta Điên Khùng mà tánh lương hiền.
Lòng yêu dân chẳng trọng bạc tiền,
Mà dương thế cứ theo biếm nhẻ.
Sau lập Hội thì già hóa trẻ,
Khắp hoàn cầu đổi xác thay hồn,
Đức Ngọc Hoàng mở cửa thiên môn,
Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh.
Khuyên trai gái học theo Khổng Mạnh,
Sách Thánh Hiền dạy Đạo làm người.
Xem truyện thơ chẳng biết hổ ngươi,
Mà làm thói Điêu Thuyền, Lữ bố.
Sau kẻ ấy làm mồi mãnh hổ,
Cảnh núi non nhiều thú dị kỳ.
Nó trọng ai hiền đức nhu mì,
Sát phạt kẻ bội cha phản chúa.
Đến chừng ấy thiên la lưới bủa,
Mới biết rằng Trời Phật công bằng.
Nếu dương trần sớm biết ăn năn,
Làm hiền đức khỏi đường lao lý.
Học tả đạo làm điều tà mị,
Theo dị đoan cúng kiến tinh tà.
Thì sau nầy gặp chuyện thiết tha,
Đừng có trách Khùng Điên chẳng cứu.
Thấy bá tánh nghinh tân yểm cựu,
Học ai mà ngang ngược nhiều lời.
Phụ mẹ cha khinh dể Phật Trời,
Chẳng có kể công sanh dưỡng dục.
Thương lê thứ bày tường trong đục,
Mặc ý ai nghe phải thì làm.
Lời của người di tịch Núi Sam,
Chớ chẳng phải bày điều huyễn hoặc.
Cảnh Thiên Trước thơm tho nồng nặc,
Chẳng ở yên còn xuống phàm trần.
Ấy vì thương trăm họ vạn dân,
Nên chẳng kể tấm thân lao khổ.
Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ,
Giả bán buôn thức giấc người đời.
Rằng ngày nay có Phật có Trời,
Kẻo lê thứ nhiều người kiêu ngạo.
Xuống mượn xác nhằm năm Kỷ Mão,
Buồn xóm làng cứ ghét Điên Khùng.
Nếu trẻ già ai biết thì dùng,
Chẳng có ép có nài bá tánh.
 

        TRANG 3


 Nghe Điên dạy sau nầy thơi thảnh,
Đây chỉ đường Cực Lạc vãng sanh.
Đừng có ham lên mặt hùng anh,
Sa địa ngục uổng thân uổng kiếp.
Theo đạo lý nhứt tâm mới kịp,
Ngày nay đà gặp dịp tu hành.
Niệm Di-Đà rán niệm cho rành,
Thì mới được sống coi Tiên Thánh.
Đức Minh Chúa chẳng ai dám sánh,
Xưa mạt Thương phụng gáy non Kỳ.
Bởi Võ Vương đáng bực tu mi,
Nay trở lại khác nào đời trước.
Kẻ gian ác bị gươm ba thước,
Nơi pháp tràng trị kẻ hung đồ.
Được thảnh thơi nhờ chữ Nam-Mô,
Khuyên bổn đạo rán mà trì chí.
Xưa Tây Bá thất niên Dũ lý,
Huống chi ta sao khỏi tiếng đời.
Dòm biển trần cảnh khổ vơi vơi,
Lao với khổ, khổ lao chẳng xiết.
Ghét bạo chúa là xưa Trụ Kiệt,
Mất cơ đồ lại bị lửa thiêu.
Thương Minh Vương bắt chước Thuấn, Nghiêu,
Lòng hiền đức nào ai có biết.
Thương trần thế kể sao cho xiết,
Mượn xác trần bút tả ít hàng.
Kể rõ ràng những việc lầm than,
Mặc làng xóm muốn nghe thì chép.
Việc tu tỉnh Khùng không có ép,
Cho giấy vàng Điên chẳng có nài.
Lòng yêu dân chẳng nệ vắn dài,
Cho bổn đạo giải khuây niệm Phật.
Việc xảy đến Đây truyền sự thật,
Ấy là lời của Phật giáo khuyên.
Rán nghe lời của kẻ Khùng Điên,
Phật, Tiên, Thánh hãy nên trọng kỉnh.
Bịnh ôn dịch cũng đừng mời thỉnh,
Cõi ngũ hành chẳng khá réo kêu.
Hãy gìn lòng chớ khá dệt thêu,
Nói xiên xỏ cũng không no béo.
Đời Nguơn-Hạ ngày nay mỏng mẻo,
Khuyên thế trần hãy rán kiêng dè.
Mặc tình ai lên ngựa xuống xe,
Ta chẳng có ham nơi phú quí.
Trong bổn đạo từ nay kim chỉ,
Đói với nghèo sắp đến bây giờ.
Vì thương đời nên Lão kể sơ,
Cho bá tánh rõ lời châu ngọc.
Nước Nam Việt ai là thằng ngốc,
Người đời nay như ốc mượn hồn.
 

        TRANG 4


 Chim tìm cây mới gọi chim khôn,
Người hiền đức mới là người trí.
Theo Phật Giáo sau nầy cao qúi,
Được nhìn xem Ngọc Đế xử phân.
Lại dựa kề Bệ Ngọc Các Lân,
Cảnh phú quí nhờ ơn Phật Tổ.
Thấy bá tánh nhiều điều tai khổ,
Khùng thương dân nên phải hết lời .
Dạo Lục Châu chẳng có nghỉ ngơi,
Mà lê thứ nào đâu có biết .
Dạy Đạo Chánh vì thương Nam Việt ,
Ở Cao Miên vì mến Tần Hoàng .
Trở về Nam đặng có sửa sang ,
Cho thiện tín được rành chơn lý .
Trong sáu tỉnh nhiều điều tà mị ,
Tu hành mà vị kỷ quá chừng .
Thì làm sao thoát khỏi trầm luân ,
Khuyên bổn đạo rán tầm nẻo chánh .
Chừng lập Hội xác thân mới rảnh,
Nếu không thơì khó thấy Phật Trời.
Khùng dạy dân chẳng dám nghỉ ngơi ,
Đi chẳng kể tấm thân già cả.
Cảnh trần thế mặc ai thong thả,
Chớ lòng ta chẳng đắm hồng trần .
Có thân thì rán giữ lấy thân ,
Để đến việc ăn năn chẳng kịp.
Yêu những kẻ tâm đầu ý hiệp,
Mến những ai biết kiếm Đạo mầu .
Cảnh Tây Thiên báu ngọc đầy lầu ,
Rán tu tỉnh tìm nơi an dưỡng.
Kẻ hiền đức sau này được hưởng ,
Phép thần linh của Đức Di Đà .
Lại được thêm thóat khỏi Ta Bà,
Khỏi luân chuyển trong vòng Lục Đạo.
Đức Diêm chúa yêu người hiền thảo,
Trọng những ai biết niệm Di Đà.
Lại được gần Bệ Ngọc Long Xa,
Coi chư quốc tranh giành châu báu.
Trai nhỏ tuổi kính thành trưởng lảo,
Gái bé thơ biết trọng tuổi già.
Rán tỉnh tâm dẹp được lòng tà,
Thì được thấy Phật ,Tiên ,Thần ,Thánh.
Việc hung dữ hãy nên xa lánh,
Theo gương hiền trau sửa lòng người.
Sau tà tinh ăn sống nuốt tươi,
Mà bá tánh chẳng lo cải thiện .
Miệng dương thế hay bày nói huyễn,
Sách Thánh Hiền ghét kẻ nhiều lời.
Khuyên chúng sanh niệm Phật coi đời,
Cõi Hạ giới rồng mây chơi giỡn.
 

        TRANG 5


 Ở chòm xóm đừng cho nhơ bợn,
Rán giữ gìn phong hóa nước nhà.
Câu tam tùng bọn gái nước ta,
Chữ hiếu nghĩa kẻ trai cho vẹn .
Ghét những kẻ có ăn bỏn sẻn,
Thương những người đói rách lương hiền .
Muốn tu hành thì phải cần chuyên,
Tưởng nhớ Phật chớ nên sái buổi.
Kẻ phú quí đừng vong cơm nguội,
Sau đói lòng chẳng có mà dùng.
Ta yêu đời than thở chẳng cùng,
Mà bá tánh chẳng theo học hỏi.
A Di Đà nhìn xem khắp cõi,
Đặng trông chờ mong mỏi chúng sanh .
Hiện hào quang ngũ sắc hiền lành,
Đặng tìm kiếm những người hiền đức.
Kẻ tâm trí mau mau tỉnh thức ,
Kiếm Đạo mầu đặng có hưởng nhờ.
Chốn hồng trần nhiều cảnh nhuốc nhơ,
Rán hiểu rỏ huyền cơ mà tránh .
Chốn tửu điếm ta nên xa lánh,
Tứ đổ tường đừng có nhiễm vào.
Người tránh xa mới gọi trí cao,
Sa bốn vách mang điều nhơ nhuốc.
Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,
Đức Di Đà truyền mở đạo lành.
Bởi vì Ngài thương xót chúng sanh,
Ra sắc lệnh bảo Ta truyền dạy.
Nên lao khổ Khùng không có nại,
Miễn cho đời hiễu đặng Đạo mầu.
Ai muốn tầm Đạo cả cao sâu,
Thì hãy dẹp tánh tình ích kỷ.
Mau trở lại đừng theo tà quỉ ,
Tham, Sân ,Si chớ để trong lòng .
Phải giữ lòng cho được sạch trong,
Mới thóat khỏi trong vòng bịnh khổ.
Lớp đau chết kể thôi vô số,
Thêm tà ma yêu quái chật đường.
Chốn hồng trần nhiều nổi thảm thương,
Làm sao cứu những người hung ác.
Khắp thế giới cửa nhà tan nát,
Cùng xóm làng thưa thớt quạnh hiu.
Bấy lâu nay nuôi dưỡng chắt chiu,
Nay tận diệt lập đời trở lại.
Khắp lê thứ biến vi thương hải,
Dùng phép mầu lập lại Thượng Ngươn.
Việc Thiên Cơ Khùng tỏ hết trơn,
Cho trần hạ tường nơi lao lý.
Lão nào có bày điều ma mị,
Mà gạt lường bổn đạo chúng sanh.
 

        TRANG 6


 Đức Minh Vương ngự chốn Nam thành,
Đặng phân xử những người bội nghĩa.
Trung với hiếu ta nên trau trỉa,
Hiền với lương bổn đạo rèn lòng.
Thường nguyện cầu siêu độ Tổ Tông,
Với bá tánh vạn dân vô sự.
Đời Ngươn Hạ nhiều người hung dữ,
Nên xảy ra lắm sự tay ương.
Đức Di Đà xem thấy xót thương,
Sai chư Phật xuống miền dương thế.
Tu kíp kíp nếu không quá trễ,
Chừng đối đầu khó kiếm Điên Khùng.
Cứu lương hiền chẳng cứu người hung,
Kẻ gian ác đến sau tiêu diệt.
Nay trở lại như đời Trụ Kiệt,
Hãy tu nhơn chớ có tranh giành.
Tuy nghèo hèn mà trí cao thanh,
Được hồi phục nhờ ơn chư Phật.
Hãy thương xót những người tàn tật,
Thấy nghèo hèn chớ khá khinh cười.
Trên Năm Non rồng phụng tốt tươi,
Miền bảy núi mà sau báu quí.
Mặc trai gái trẻ già có nghĩ ,
Thì khoan cười tôi rất cám ơn.
Khùng ra đời truyền dạy thiệt hơn,
Chư bổn đạo chớ nên khinh rẻ.
Nay Khùng đã hết già hóa trẻ,
Nên giữa đồng bỗng lại có sông.
Ở Phương Tây chư Phật ngóng trông,
Chờ bá tánh rủ nhau niệm phật.
Làm nhơn ái ắt tiêu bịnh tật,
Vậy hãy mau tầm Đạo Thích Ca.
Phật tại tâm chớ có đâu xa,
Mà tìm kiếm ở trên Non Núi.
Chúng đục đẽo những cây với củi,
Đắp xi măng sơn phết đặt tên.
Ngục A Tỳ dựa kế một bên,
Chờ những kẻ tu hành giả dối.
Khuyên sư vãi mau mau cải hối,
Làm vô vi chánh đạo mới mầu.
Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu,
Hãy tìm kiếm cái không mới có.
Ngôi Tam Bảo hãy thờ Trần Đỏ,
Tạo làm chi những cốt với hình.
Khùng nói cho già trẻ làm tin ,
Theo Lục Tổ chớ theo Thần Tú.
Khuyên bổn đạo chớ nên mê ngủ,
Thức dậy tìm Đạo chánh của Khùng.
Đặng sau xem liệt quốc tranh hùng,
Được sanh sống nhờ ơn Chín Bệ.
 

        TRANG 7


 Hóa phép lạ biết sao mà kể,
Chín từng mây nhạc trỗi tiêu thiều.
Kẻ tà gian sau bị lửa thiêu,
Người tu niệm sống đời thượng cổ.
Khùng vâng lệnh Tây Phương Phật Tổ,
Nên giáo truyền khắp cả Nam Kỳ.
Hội Long Hoa chọn kẻ tu mi,
Người hiền đức đặng phò chơn Chúa.
Khuyên những kẻ giàu sang có của,
Hãy mở lòng thương xót dân nghèo.
Cảnh vinh hoa lại quá cheo leo,
Nhà giàu có sau nhiều tai ách.
Hởi bá tánh rừng sâu có mạch,
Tuy u minh mà có đền vàng.
Lệnh Quan Âm dạy biểu Khùng troàn,
Cho bổn đạo rõ nguồn chơn lý.
Lũ thầy đám hay bày trò khỉ,
Mượn kinh luân tụng mướn lấy tiền.
Chốn Diêm Đình ghi tội liên miên,
Mà tăng chúng nào đâu có rõ.
Theo Thần Tú tạo nhiều chuông mõ,
Từ xưa nay có mấy ai thành ?
Phật từ bi độ tử độ sanh,
Là độ kẻ hiền lương nhơn ái.
Xá với phướn là trò kỳ quái,
Làm trai đàn che miệng thế gian.
Kẻ vinh hoa phú quí giàu sang,
Mướn tăng chúng đặng làm chữ hiếu.
Thương bá tánh vì không rõ hiểu,
Tưởng vậy là nhơn nghĩa vẹn tròn.
Thấy lạc lầm đây động lòng son,
Khuyên bổn đạo hãy nên tỉnh ngộ.
Ở dương thế tạo nhiều cảnh khổ,
Xuống huỳnh tuyền Địa Ngục khảo hình.
Tuy lưới trời thưa rộng thinh thinh,
Chớ chẳng lọt những người hung ác.
Khi nhắm mắt hồn lìa khỏi xác,
Quỉ Vô Thường dắt xuống Diêm Đình.
Sổ sách kia tội phước đinh ninh,
Phạt với thưởng hai đường tỏ rõ.
Tìm Cực Lạc, Đây rành đường ngỏ,
Hãy mau mau tu tỉnh mới mầu.
Tận thế gian còn có bao lâu,
Mà chẳng chịu làm tròn nhơn đạo.
Kẻ nghèo khó hụt tiền thiếu gạo,
Mở lòng nhơn tiếp rước mới là.
Làm hiền lương hơn tụng hơ hà,
Hãy tưởng Phật hay hơn ó ré.
Đã chánh đạo thêm còn sức khỏe,
Đặng nuôi cha dưỡng mẹ cho tròn.
 

        TRANG 8


 Vẹn mười ơn mới đạo làm con,
Lúc sanh sống chớ nên phụ bạc.
Nếu làm đám được về Cực Lạc,
Thì giàu sang được trọn hai bề.
Ỷ tước quyền làm ác ê hề,
Khi bỏ xác nhiều tiền lo lót.
Kinh với sám tụng nghe thảnh thót,
Lũ nhưn bông tập luyện đã rành.
Đẩu với đờn, kèn, trống nhịp sanh,
Làm ăn rập đặng đòi cao giá.
Tâm trần tục còn phân nhơn ngã,
Thì làm sao thoát khỏi luân hồi.
Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi,
Chớ có đốt tốn tiền vô lý.
Xưa Thần Tú bày điều tà mị,
Mà dắt dìu bá tánh đời Đường.
Thấy chúng sanh lầm lạc đáng thương,
Cõi Âm Phủ đâu ăn của hối.
Đúc Phật lớn chùa cao bối rối,
Mà làm cho Phật Giáo suy đồi.
Tu Vô Vi chớ cúng chè xôi,
Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót.
Tăng với chúng ưa ăn đồ ngọt,
Nên bày ra cúng kiến hoài hoài,
Ỷ nhiều tiền chẳng biết thương ai,
Cúng với lạy khó trừ cho đặng.
Kẻ nghèo khó tu hành cho thẳng,
Không cầu siêu Phật bỏ hay sao?
Lập trai đàn chạy chọt lao xao,
Bôi lem mặt bày tuồng hát Phật.
Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất,
Vậy hãy mau bỏ bớt dị đoan.
Rán giữ gìn luân lý tam cang ,
Tròn đức hạnh mơí là báu quí.
Nay gần đến long phi xà vĩ,
Cảnh gian nan bá tánh hầu kề.
Thấy chúng sanh còn hơĩ say mê,
Khùng chỉ rõ đường tà nẻo chánh.
Ta là kẻ vô hình hửu ảnh,
Ẩn xác phàm gìn Đạo Thích Ca.
Làm gian ác là quỉ là ma,
Làm chơn chánh là Tiên là Phật.
Hiếm những kẻ không nhà không đất,
Mà giàu sang chẳng xót thương giùm.
Có lỡ lầm chưởi mắng um sùm,
Thêm đánh đập khác nào con vật.
Ăn không hết lo dành lo cất,
Đem bạc trăm cúng Phật làm chi?
Phật Tây Phương vốn tánh từ bi,
Đâu túng thiếu mà quơ mà tởi.
 

        TRANG 9


 Khùng cả tiếng kêu dân ơi hỡi,
Hãy giúp cho kẻ đói mới nhằm.
Đến loạn ly khổ hạnh khỏi lâm,
Còn hơn đúc chuông đồng phật bự.
Chẳng làm phước đễ làm hung dữ,
Rồi vào chùa lạy Phật mà trừ.
Phật Tây Phương có lẽ hiểu dư,
Dụng tâm ý chứ không dụng vật.
Muốn bổn đạo tánh tình chơn chất,
Rèn lòng hiền thương xót lẫn nhau .
Kể từ rày vàng lộn với thau,
Phật, Tiên, Thánh cùng nhau xuống thế.
Cứu bá tánh không cần lễ mễ,
Đễ dắt dìu đạo lý rành đường.
Nước Nam Việt nhằm cõi Trung Ương,
Sau sẽ có Phật Tiên tại thế.
Khuyên sư vãi bớt dùng của thế,
Gắng công tu đặng có xem đời.
Tu thật tâm thì được thảnh thơi,
Tu giả dối thì lao thì lý.
Khùng khuyên hết kẻ ngu người trí,
Rán tĩnh tâm suy nghĩ Đạo mầu.
Chuyện huyền cơ bí hiểm cao sâu,
Hãy nghiệm xét hai đường tà chánh.
Các chư Phật không khi nào rảnh,
Tâm từ bi vẫn nhớ chúng sanh.
Các chư Thần tuần vãng năm canh,
Về Thượng giái tâu qua Thượng Đế.
Sổ tội ác thì vô số kể,
Còn làm nhơn thì quá ít oi.
Hội công đồng xem xét hẳn hòi,
Sai chư tướng xuống răn trần thế.
Đau nhiều chứng dị kỳ khó kể,
Sắp từ nay lao khổ đến cùng.
Kẻ dương gian khó nỗi thung dung,
Người bạo ác không toàn tánh mạng.
Đường đạo lý chớ nên chán nản,
Hãy bền lòng tầm Phật trong tâm.
Phật Tây Phương thiệt quá xa xăm,
Phải tìm kiếm ở trong não trí.
Sau đến việc sơn băng kiệt thủy,
Khùng thảm thương bá tánh quá chừng.
Nhìn xem trần nước mắt rưng rưng ,
Cảnh áo não kể sao cho xiết .
Ta dạy dỗ là vì tình thiệt,
Cho bá gia rõ biết người Khùng.
Thấy dương trần làm dữ làm hung,
Nên khuyên nhủ cho người lương thiện.
Chữ Lục Tự trì tâm bất viễn,
Thì lâm nguy có kẻ cứu mình.
 

        TRANG 10


 Ai lòng nhơn hoặc chép hay in,
Mà truyền bá đặng nhiều phước đức.
Trong bá tánh từ nay buồn bực,
Khùng yêu dân chỉ rõ Đạo mầu.
Rán trì tâm tưởng niệm canh thâu,
Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp.
Việc biến chuyển Thiên Cơ rất gấp,
Khuyên chúng sanh hãy rán tu hành.
Cầu linh hồn cho được vãng sanh,
Đây chỉ rõ đường đi nước bước.
Hãy tưởng Phật đừng làm bạo ngược,
Ta phần hồn dạo khắp thế gian.
Vào xác trần nước mắt chứa chan,
Khắp lê thứ nghe lời thì ít.
Chốn sơn lãnh bây giờ mù mịt,
Cho nên dân dạy chẳng nghe lời.
Kể từ nay nói chuyện chiều mơi,
Chớ chẳng nói dông dài khó hiểu.
Cờ đã phất còn chờ nước chiếu,
Mà còn ăn con chốt làm chi?
Ai là người quân tử tu mi,
Phải sớm xử thân mình cho vẹn.
Chừng lập Hội khỏi thùa khỏi thẹn,
Với Phật Tiên cũng chẳng xa chi.
Lời cao siêu khuyên hãy rán ghi,
Ta ra sức dắt dìu bá tánh.

NAM MÔ TAM GIÁO QUI NGƯƠN
PHỔ ĐỘ CHÚNG SANH A DI ĐÀ PHẬT

BỬU ngọc vãng lai rõ Đạo mầu,
SƠN tầm hạnh Thích nẻo cao sâu.
KỲ giả thức tâm tìm Đạo lý,
HƯƠNG tuyệt đăng lui bãi phục cầu.
153  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / SẤM GIẢNG GIÁO LÝ / Quyển 3: Sám Giảng vào lúc: 03/16/09



Quyển 3: Sấm Giảng

Đây là quyển thứ ba mà Đức Thầy đã viết vào năm 1939 tại Hòa-Hảo (612 câu)

TRANG 1

Ngồi trên đỉnh núi liên đài,
Tu hành tầm Đạo một mai cứu đời.
Lan thiên một cõi xa chơi,
Non cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng.
Hiu hiu gió thổi lạnh lùng,
Phất phơ liễu yếu lạnh lùng tòng mai.
Mùa xuân hứng cảnh lầu đài,
Lúc còn xác thịt thi tài hùng anh.
Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,
Bồng Lai một cõi hữu danh chữ đề.
Kể từ Tiên cảnh Ta về,
Non Bồng Ta ở dựa kề mấy năm.
Dạo chơi tầm bực tri âm,
Nay vì thương chúng trần gian phản hồi.
Nghĩ mình trong sạch đã rồi,
Đào Tiên tạm thực về ngồi cõi xa.
Phong trần tâm đã rời xa,
Ngọc Thanh là hiệu ai mà dám tranh.
Ngày ra chơi chốn rừng xanh,
Tối về kinh kệ cửi canh mặc người.
Xuống trần lỡ khóc lỡ cười,
Ham vui đào mận vuông tròn chẳng xong.
Chừng nào sấu nọ hóa long,
Trần gian mới rõ tấm lòng Thần Tiên.
Thương đời ta mượn bút nghiên,
Thở than ít tiếng giải phiền lòng son.
Bắt đầu cha nọ lạc con ,
Thân này thương chúng hao mòn từ đây.
Minh Hòang chưa ngự đài mây,
Gẫm trong thế sự còn đầy gian truân.
Đò đưa cứu kẻ trầm luân,
Đặng chờ vận đến mới mừng chúa tôi.
Thảm thương thế sự lắm ôi,
Dẫy đầy thê thảm lắm hồi mê ly.
Dạo chơi Lục tỉnh một khi,
Rước đưa người tục tu trì xa khơi.
No chiều rồi lại đói mơi,
Dương trần sắp vướng bịnh Trời từ đây.
Khuyên trần sớm liệu bắp khoai,
Cháo rau đỡ dạ tháng ngày cho qua.
Nhắn cùng bổn đạo gần xa,
Tu hành trì chí mới là liễu mai.
Nguyện cầu qua khỏi nạn tai,
Đặng coi Tiên Thánh lầu đài quốc vương.
Niệm Phật nào đợi mùi hương,
Miễn tâm thành kính tòa chương cũng gần.
Lao xao bể Bắc non Tần,
Quân phiên tham báu xa gần cũng qua.
Tranh phân cho rõ tài ba,
Cùng nhau giành giựt mới là thây phơi.

TRANG 2

Khổ lao đà sắp đến nơi,
Thế gian bớt miệng kêu mời cõi âm.
Dầu cho có ở xa xăm,
Cũng là rán tới viếng thăm dương trần.
Ngũ hành cùng các chư Thần,
Từ đây sắp đến xuống gần chúng sanh.
Chuông kia treo sợi chỉ mành,
Chẳng lo thân phận lo giành bướm ong.
Hiếu trung hãy liệu cho xong,
Đến chừng gặp chúa mới mong trở về.
Bây giờ kẻ Sở người Tề,
Hiền lương đến Hội cũng kề với nhau.
Phật Trời chẳng luận nghèo giàu,
Ai nhiều phước đức được vào cõi Tiên.
Hữu phần thì cũng hữu duyên,
Sửa tâm hiền đức cõi Tiên cũng gần.
Ta mang mình thịt xác trần,
Ra tay dắt chúng được gần Bồng Lai.
Mai sau nhiều cuộc đất cày,
Đau nhau mà chạy lầu đài cũng xa.
Lập rồi cái Hội Long Hoa,
Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu.
Gian tà hồn xác cũng tiêu,
Thảm thương bá tánh chín chiều ruột đau.
Mặc ai tranh luận thấp cao,
Thương trong lê thứ xáo xào từ đây.
Chinh chinh bóng xế về tây,
Đoái nhìn trần thế xác thây ê hề.
Thương trần Ta cũng rán thề,
Đặng cho bá tánh liệu bề tu thân.
Tu hành chẳng được đức ân,
Thì Ta chẳng phải xác thân người đời.
Phật truyền Ta dạy mấy lời,
Đặng cho trần thế thức thời tu thân.
Nào là luân lý Tứ Ân,
Phải lo đền đáp xác thân mới còn.
Ai mà sửa đặng vuông tròn,
Long Vân đến hội lầu son dựa kề.
Thương đời văn vật say mê,
Làm điều gian ác thảm thê sau nầy.
Kể từ hầu hạ bên Thầy,
Vào ra chầu chực đài mây cũng gần.
Tuy là nương dựa non Tần,
Ngày sau thế cuộc xoay vần về Nam.
Qua sông nhờ được cầu Lam,
Tu hành nào đợi chùa am làm gì.
Bây giờ bạc lộn với chì,
Nữa sau lọc lại vít tì cũng chê.
Bớ dân chớ có say mê,
Trung lương chánh trực dựa kề đài mây.

TRANG 3

Mảng lo gây gổ tối ngày,
Chẳng lo rèn đúc trí tài hiền lương.
Thân này ăn tuyết nằm sương,
Chẳng than chẳng thở vì thương thế trần.
Theo Thầy giảng dạy nhiều lần,
Dương gian nào biết thế trần nào hay.
Cầu cho dân khỏi nạn tai,
Qua nơi khổ não mặc ai chê cười.
Bạc đâu dám sánh vàng mười,
U mê mà lại chê cười Thần Tiên.
Giã từ sơn lãnh lâm tuyền,
Về đây hội hiệp sạ duyên tớ Thầy.
Ở rừng bạn với cáo cầy,
Bây giờ xuống thế cáo cầy lìa xa.
Thiên cơ biến đổi can qua,
Gẫm trong thế giới còn đôi ba phần.
Mau mau kíp kíp chuyên cần,
Chúng sanh còn có lập thân hội này.
Tuần hườn Thiên Địa đổi xây,
Cảm thương trần hạ lòng đây chẳng sờn.
Cũng còn kẻ ghét người hờn,
Vì không rõ hiểu sạ duơn của Thầy.
Hổ lang ác thú muôn bầy,
Lớp bay lớp chạy sau này đa đoan.
Ai mà ăn ở nghinh ngang,
Đón đường nó bắt xé tan xác hồn.
Chữ rằng họa phước vô môn,
Đáo đầu cũng phải xác hồn tiêu tan.
Khuyên người hữu phước giàu sang,
Mau mau làm phước làm doan cho rồi.
Để sau khó đứng khôn ngồi,
Thương nhà tiếc của biết hồi nào nguôi.
Ai mà ăn ở ngược xuôi,
Bị nơi rắn rít chẳng vui đâu là.
Rắn to tên gọi mãng xà,
Trên rừng nó xuống nó tha dương trần.
Ai mà tu tỉnh chuyên cần,
Làm đường ngay thẳng có Thần độ cho.
Thương đời hết dạ cần lo,
Chẳng lo niệm Phật nhỏ to làm gì.
Tu là tâm trí nhu mì ;
Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong .
Tu cầu cứu vớt Tổ Tông,
Với cho bá tánh máu hồng bớt rơi.
Tu cầu cha mẹ thảnh thơi,
Quốc vương thủy thổ chiều mơi phản hồi.
Tu đền nợ thế cho rồi,
Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.
Người tu phải lánh hơi men,
Đừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình.

TRANG 4

Tu là sửa trọn ân tình,
Tào khang chồng vợ bố kình đừng phai.
Tu cầu Đức Phật Như Lai,
Cứu dân ra khỏi nạn tai buổi nầy.
Chữ tu chớ khá trễ chầy,
Phải trau phải sửa nghe Thầy dạy khuyên.
Ra đời xưng hiệu Khùng Điên,
Nào ai có rõ Thần Tiên là gì.
Tu không cần lạy cần quì,
Ngồi đâu cũng sửa dậy thì mới mau.
Trí hiền tâm đức chùi lau,
Ra công lọc kỹ thì thau ra vàng.
Vinh hoa phú quý chẳng màng,
Ra oai ra lực cỡi thòan xa chơi.
Con sông dòng nước chiều mơi,
Dốc lòng trả nợ nước đời cho xong.
Chừng nào bổn đạo hiểu thông,
Thiên cơ đạo lý để lòng mới thôi.
Chữ vinh chữ nhục mấy hồi,
Đến khi thất vận làm mồi yêu tinh.
Tu rèn tâm trí cho minh,
Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lau.
Hiểu rồi những việc lao đao,
Ở cùng cô bác làm sao cho tròn.
Kính yêu nào phải hao mòn,
Ở cho phải nghĩa lòng son mới vừa.
Nghinh ngang hỗn ẩu phải chừa,
Bà con nội ngoại dạ thưa mới là.
Xóm giềng phải ở thật thà,
Dù không quen biết cũng là như quen.
Ở cho cha mẹ ngợi khen,
Gặp người lâm nạn đua chen giúp dùm.
Xác thân là cái gông cùm,
Nếu làm chẳng trọn thú hùm xé thây.
Cho rồi nhơn nghĩa mới hay,
Lễ nghi phong hóa đổi thay làm gì?
Từ đây biến đổi dị kỳ,
Dương thế chuyện gì cũng có chuyển lay.
Rèn tâm cho được thẳng ngay,
Khỏi nơi tà quỉ một mai thấy đời.
Cũng là người ở trong trời,
Cớ sao ăn ở nhiều lời ngổn ngang.
Hung hăng ỷ của giàu sang,
Chẳng kiêng Trời Phật mê man ỷ tiền.
Dạy rồi cái đạo tu hiền,
Làm trai nhỏ tuổi tình duyên đang nồng.
Cũng đừng ghẹo gái có chồng,
Cũng đừng phá hoại chữ đồng gái trinh.
Ra đường chọc ghẹo gái xinh,
Nữa sau mắc phải yêu tinh hư mình.

TRANG 5

Xử cho vẹn chữ nghĩa tình,
Vâng lời cha mẹ mà gìn gia cang.
Nghiêm đường chịu lịnh cho an,
Lọan luân cang kỷ hổ mang tiếng đời.
Anh em đừng có đổi dời,
Phụ phàng dưa muối xe lơi nghỉa tình.
Tuy là trời đất rộng thinh,
Có Thần xem xét phân minh cho người.
Vô duyên chưa nói mà cười,
Chưa đi mà chạy hỡi người vô duyên.
Lớn lên phận gái cần chuyên,
Làm ăn thì phải cho siêng mới là.
Phải gìn dục vọng lòng tà,
Đừng chiều theo nó vậy mà hư thân !
Nghe lời cha mẹ cân phân,
Tam tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.
Tình duyên chẳng kíp thì chầy,
Chớ đừng cải lịnh gió mây ngoại tình.
Đi thưa về cũng phải trình,
Công, dung, ngôn, hạnh, thân mình phải trau.
Công là phải sửa làm sao,
Làm ăn các việc tầm phào chẳng nên.
Mình là gái mới lớn lên,
Đừng cho công việc hớ hênh mới là.
Chữ dung là phận đàn bà,
Vóc hình tươi tắn đứng đi dịu dàng.
Dầu cho mắc chữ nghèo nàn,
Cũng là phải sửa phải sang mới mầu.
Ngôn là lời nói mặc dầu,
Cũng cho nghiêm chỉnh mới hầu khôn ngoan.
Đừng dùng lời tiếng phang ngang,
Thì cha với mẹ mới an tấm lòng.
Hạnh là đức tính phải không ?
Ở cùng chòm xóm đừng cho mất lòng.
Bốn điều nếu đã làm xong,
Cũng gìn chữ hiếu phục tòng song thân.
Dạy rồi những chuyện đức ân,
Phận làm cha mẹ xử phân lẽ nào.
Lỗi-lầm chớ có hùng hào,
Đừng chưởi đừng rủa đừng cào đừng bươi.
Đem lời hiền đức tốt tươi,
Đặng mà giáo hóa vàng mười chẳng hơn.
Cũng đừng gây gổ giận hờn,
Cho con bắt chước sạ duơn mới là.
Nam Mô sáu chữ Di Đà,
Từ bi tế độ vậy mà chúng sanh.
Xưa nay sáu chữ lạnh tanh,
Chẳng ai chịu khó niệm sành thử coi.
Trì tâm thì quá ít oi,
Bây giờ dùng thử mà coi lẽ nào.

TRANG 6

Rạch tim đem để nó vào,
Thì là mới khỏi máu đào tuôn rơi.
Để sau đến việc tả tơi,
Rồi tu sao kịp chiều mơi cho thành.
Ngày nay chim đã gặp cành,
Chẳng lo đậu lại cho rành gió mưa.
Tu hành nhiều kẻ chẳng ưa,
Mặc ai gièm siểm sớm trưa chẳng màng.
Gẫm trong thế-sự trần hoàn,
Người hung người ác tà gian cũng nhiều.
Thương đời ta mới đánh liều,
Mong người tu tỉnh ít nhiều cũng hay.
Muốn tu còn đợi chiều mai,
Khuyên người rèn sớm thì xài lâu hư.
Những người có của tiền dư,
Hãy nên bố thí dành tư làm gì.
Sau đây nhiều chuyện ly kỳ,
Kể sao cho xiết vậy thì dân ôi !
Tại sao chẳng cúng chè xôi ?
Bởi vì tận thế Phật thôi ăn chè.
Cũng không có muốn hoa hòe,
Lầu đài sơn phết cũng là chẳng ham.
Ai chê khờ dại cũng cam,
Chớ Tôi cũng chẳng có ham lầu đài.
Chữ tu hãy rán miệt mài,
Đừng kể vắn dài đừng nệ mau lâu.
Giáo khuyên khắp hết đâu đâu,
Bớt điều mị dối mới hầu thấy Ta.
Đừng theo lũ quỉ lũ ma,
Cúng kiếng nó mà nó phải ăn quen.
Chết rồi cũng bớt cóc keng,
Trống đờn lễ nhạc tế xen ích gì.
Đàn nhu thầy lễ cũng kỳ,
Mắc phải chuyện gì phủ phục bình hưng ?
Lại thêm đờn địch từng tưng,
Đem con heo sống mà dưng làm gì ?
Chủ gia kẻ lạy người quì,
Làm chuyện dị kỳ giả dối hay không ?
Nếu không thì trả lời không,
Bằng mà có dối thì hòng sửa đi.
Thương đời Ta luống sầu bi,
Học nho cứ mãi làm thi ngạo đời.
Rung đùi ngâm chuyện trên trời,
Tình duyên cá nước vậy thời dỗ con.
Thấy đời Ta cũng héo von,
Học nho mà chẳng làm tròn nghĩa nhơn.
Khoe mình chẳng có ai hơn,
Nhờ làm thuốc bắc đở cơn túng nghèo.
Hiền nhơn chẳng chịu làm theo,
Đợi ai có bịnh túng nghèo chẳng tha.

TRANG 7

Hốt thời cắc bảy cắc ba,
Nó đòi năm cắc người ta hoảng hồn.
Lành bay còn ác lại tồn,
Đến chừng lập Hội xác hồn lìa xa.
Mấy anh thầy thuốc Lang sa,
Cũng là mổ mật người ta lấy tiền.
Xin trong anh chị đừng phiền,
Đồng bạc đồng tiền là thứ phi ân.
Muốn sau dựa được Các Lân,
Hãy nên trao sửa hiền nhân mới là.
Những người quê dốt thật thà,
Cũng nên tu niệm nhờ mà thân sau.
Lập đời mới biết thấp cao,
Bây giờ chưa biết ai thau ai chì.
Đời xưa có Ngũ Viên Kỳ,
Đem tài học thuốc hiến thì cho dân.
Người xưa còn chẳng cần thân,
Miễn cho trong nước chúng dân được nhờ.
Để tâm yên lặng như tờ,
Nghĩ suy lời lẽ tỏ mờ thể nao.
Luận xem thế sự thấp cao,
Khuyên dân hãy bớt làm màu hiếu nhi.
Bớt bỏ rình rang một khi,
Nếu cha mẹ chết làm y lời nầy.
Là lời truyền giáo của Thầy,
Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn.
Còn mình muốn đãi làng thôn,
Thì là tự ý đáp ngôn cho người.
Gẫm trong thế sự nực cười,
Chẳng lo cải sửa cho người tâm ngay.
Mình làm chữ hiếu mới hay,
Chớ mướn người ngoài cầu nguyện khó siêu.
Muốn cho tội lỗi mòn tiêu,
Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.
Mục Liên cứu mẹ bằng nay,
Nhờ người hiếu hạnh tâm rày từ bi.
Ai ai hãy rán mà suy,
Thương đời Ta tỏ chuyện ni rõ ràng.
Làm tuần trà rượu xình xoàng,
Rồi thì chửi lộn mà an nỗi gì ?
Dương trần làm chuyện dị kỳ,
Tạo nhiều cảnh giả chơn thì chẳng theo.
Của tiền chớ có bỏ theo,
Chết rồi tế lễ bò heo làm gì ?
Nếu ai biết chữ tu trì,
Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.
Không làm để ở lung lăng,
Chưởi cha mắng mẹ lăng xăng thiếu gì.
Ở cho biết nhượng biết tùy,
Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.

TRANG 8

Đạo là vốn thiệt cái đàng,
Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh.
Thôi thôi bớt miệng hùng anh,
Ở nơi cửa khẩu thiệt rành tiếng ni.
Chưng bày quân tử làm chi,
Của đồ hổ bịt vậy thì xưng hô.
Lũ đàng lũ điếm hồ đồ,
Anh hùng quân tử xưng hô rền trời.
Gặp ai mắc nạn cười chơi,
Chớ không ra sức giúp đời điều chi.
Hổ mình là bực tu mi,
Chưa tròn bổn phận mà ti tôn mình.
Kể từ thượng lộ đăng trình,
Vào Nam ra Bắc mặc tình bôn phi.
Khuyên răn trần thế một khi,
Tuồng đời sắp hạ bằng ni rõ ràng.
Dương gian làm huyễn nói càn,
Cùng xóm cuối làng đâu cũng như đâu.
Hò reo giục trống nhiều câu,
Sai đồng khiển quỉ nói lâu nực cười.
Ta khuyên hết thảy các người,
Nhiều chuyện trò cười hãy bỏ bớt đi.
Đừng hò đừng réo làm chi,
Nghinh ngang kêu múa có khi hại mình.
Nghe không thì cũng mặc tình,
Nói cho rõ rệt dân tin không là.
Quan Âm Nam Hải Phổ Đà,
Cùng Thầy ra lịnh nên Ta giáo truyền.
Thánh Thần không phải thiếu tiền,
Mà kêu mà réo xuống trần mà sai.
Nam Mô Quan Âm Như Lai,
Cầu xin chư Phật cứu nay dương trần.
Khuyên đừng chưởi Thánh mắng Thần,
Xưa nay thứ lỗi thế trần chẳng kiêng.
Lưỡng Thần ghi chép liên miên,
Nào tội nào phước dưới miền trần gian.
Tâu qua Thuợng Đế Ngọc Hoàng,
Dương trần hung ác đa đoan quá nhiều.
Chúng sanh ngang ngược làm liều,
Ngọc Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi.
Minh Vương khó đứng khôn ngồi,
Thảm thương lê thứ mắc hồi gian truân.
Trước đền mắt ngọc lụy rưng,
Quí yêu bá tánh biết chừng nào nguôi.
Làm sao cho dạ được vui,
Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần.
Lời khuyên xưa cũng một lần,
Nay mượn xác trần xuống bút ra cơ.
Khôn ngoan nghe nói ngẩn ngơ,
Ngu si thì tưởng như thơ biếm đời.

TRANG 9

Ở đâu cũng Phật cũng Trời,
Tâm thành chí nguyện xem đời khó chi.
Văn Thù Bồ Tát từ bi,
Chèo tuyền Bát Nhã cứu thì trần gian.
Gió đưa lướt sóng buồm loan,
Rước người tu niệm xuê xang phỉ tình.
Ai mà Ta dạy chẳng gìn,
Thì sau đừng trách mất tình yêu bđương.
Bàn môn tài phép nào tường,
Kêu Trời giậm Đất cũng thì dạ rân.
Nói cho trần hạ liệu toan,
Chớ theo tả đạo mà tan xác hồn.
Nó làm nhiều phép nhiều môn,
Bùa mê thuốc lú mê hồn chúng sanh.
Thành binh sái đậu cũng rành,
Nếu tin thời mắc tan tành về sau.
Bây giờ bất luận người nào,
Không dùng của thế sắc màu cũng không.
Nói cho bổn đạo rõ lòng,
Ấy là chơn chánh mới hòng vinh vang.
Địa Tiên tài phép đa đoan,
Phi đao bửu kiếm mê man mắt trần.
Phật truyền thâu hết phép Thần,
Cứu an bá tánh một lần nạn nguy.
Phiên binh bốn phía tứ vi,
Kể sao cho xiết chuyện ni sau nầy.
Lớp thì thú ác dẫy đầy,
Lớp thì tranh đấu tối ngày chẳng thôi.
Kẻ hung chừng đó làm mồi,
Cho bầy ác thú đền bồi tội xưa.
Bây giờ còn mãi lọc lừa,
Chẳng lo kiếm chỗ đụt mưa sau nầy.
Hiền lành chừng đó sum vầy,
Quân thần cộng lạc mấy ngày vui chơi.
Đến đó Ta mới mừng cười,
Nhìn xem Ngọc-Đế giữa Trời định phân.
Thiên Hoàng mở cửa Các Lân,
Địa Hoàng cũng mở mấy từng ngục môn.
Mười cửa xem thấy ghê hồn,
Cho trần coi thử có mà hay không.
Nhơn Hoàng cũng lấy lẽ công,
Cũng đồng trừng trị kẻ lòng tà gian.
Ấy là đến lúc xuê xang,
Tam Hoàng trở lại là đời Thượng Nguơn.
Khuyên dân lòng chớ có sờn,
Rán tu thì được xem đờn trên mây.
Người hung chết đất chật thây,
Nhìn xem bắt thảm ngày rày cho dân.
Mấy người còn được xác thân,
Thì là Đài Ngọc Các Lân mới kề.

TRANG 10

Bây giờ kẻ nhún người trề,
Chê ta rằng dại rằng khờ cũng cam.
Dương trần bỏ bớt tánh tham,
Đừng chơi cờ bạc đừng làm ác gian.
Để sau coi Hội coi hàng,
Coi Tiên coi Phật mới ngoan bớ trần.
Điếm đàng đĩ thõa chớ gần,
Để sau xem thấy non Tần xôn xao.
Tuy nghèo dùng đỡ cháo rau,
Bền lòng niệm Phật thì sau thanh nhàn.
Đừng quen thói cũ làm càn,
Trộm gà cắp vịt xóm làng ghét vơ.
Khi xưa ta cũng làm thơ,
Mà đời trần hạ làm ngơ ít nhìn.
Dạy cho trần thế phỉ tình,
Đàng Tiên cõi tục phân minh hai đường.
Bây giờ hát bộ là thường,
Để sau Phật hát tỏ tường cho xem.
Cải lương tuồng ấy cũ mèm,
Tốn tiền buồn ngủ lại thèm đồ ăn.
Nhảy lui nhảy tới lăng xăng,
Làm tuồng mèo mả thêm nhăng cho đời.
Hạ-nguơn lòng dạ đổi dời,
Bây giờ khổ não đến đời là đây.
Rán nghe lời dạy của Thầy,
Để chừng đến việc kiếm Thầy khó ra.
Tây Phương Thầy lại quá xa,
Nên ta mới nói cạn lời dân nghe.
Đừng ham lên ngựa xuống xe,
Ăn xài phí của lụa the làm gì.
Xuống trần Ta dạy cố lỳ,
Cốt cho trần thế nghe thì mới thôi.
Ngày nay xe lết xe lôi,
Đúng lời truyền sấm của hồi đời Lê.
Là năm Rồng, Rắn, Ngựa, Dê,
Chúng sanh thế giới ê hề thây phơi.
Trạng Trình truyền sấm mấy lời,
Ngày nay dân chúng vậy thời rán tri.
Hiền nhơn bổn phận tu mi,
Hãy mau thức tỉnh kiếm thì huyền cơ.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Chúng sanh còn đợi còn chờ chuyện chi.
Trên Trời xuất hiện Tử Vi,
Quang minh sáng suốt vậy thì dân ôi !
Thương dân khó đứng khôn ngồi,
Xót xa dạ Ngọc bồi hồi tâm Trung.
Gió dông thì cội cây rung,
Phương xa có giặc thung dung đặng nào ?
Trời tây chúng nó hùng hào,
Đem lòng gây gổ máu đào mới tuôn.

TRANG 11

Cầu Trời cho chúng qua truông,
Thế gian yên lặng hát tuồng khải ca.
Tây Phương tuy ở cõi xa,
Thành tâm thì có Phật mà đáo lai.
Ước mong dân khỏi nạn tai,
Dắt dìu Tiên cảnh Bồng Lai nhiều người.
Xem trần khó nỗi vui cười,
Lo giàu lo lợi chẳng rồi bớ dân.
Mẹ cha là kẻ trọng ân,
Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già.
Giường linh đơm quảy mới là,
Có chi cúng nấy vậy mà dân ôi !
Ta là thân phận làm tôi,
Phải đền phải đáp cho rồi mới hay.
Mặc ai tranh luận đấu tài,
Khuyên dân nên hãy miệt mài chữ Tu.
Giảng nầy ra cuối mùa thu,
Dạy ăn dạy ở chữ Tu vuông tròn.
Học theo mối đạo làm con,
Luận xem học mới mấy đon đời nầy.
Văn minh sửa mặt sửa mày,
Áo quâ�n láng mướt ngày rày ăn chơi.
Dọn xem hình vóc lả lơi,
Ra đường ăn nói những lời nguyệt hoa.
Trong tâm nhớ những điều tà,
Lời ăn tiếng nói thiệt là quá lanh.
Xưng là đầu trẻ tuổi xanh,
Chẳng trau hiền đức học hành làm chi ?
Khôn ngoan thời những chuyện gì,
Cũng là lừa dối vậy thì dân quê.
Người xưa nó lại khinh chê,
Ông cha hủ bại u mê hơn mình.
Tự do trai gái kết tình,
Với lo trau sửa cho mình đẹp tươi.
Gái trai đến tuổi đôi mươi,
Chẳng kiêng cha mẹ nói cười lả lơi.
So hình sửa sắc chiều mơi,
Đặng làm những chuyện trái đời vô liêm.
Cớ sao chê cổ trọng kim,
Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con.
Thấy đời trần hạ thon von,
Ai nuôi cho lớn mà còn khinh khi.
Ông cha thuở trước ngu si,
Mà ngay mà thật hơn thì đời nay.
Học hay lợi dụng tiền tài,
Lên quan xuống huyện ăn xài lả lê.
Gặp ai đói rách cười chê,
Miệng kia hễ mở chưởi thề vang rân.
Chẳng lo rèn trí lập thân,
Để làm xảo trá khổ thân sau nầy.

TRANG 12

Giáo-viên các sở các thầy,
Khuyên mau tỉnh ngộ tập rày lòng nhơn.
Giúp đời đừng đợi trả ơn,
Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng.
Đánh liều Ta cũng nói càn,
Cứu dân bất luận giàu sang khó nghèo.
Vinh hoa như thể bọt bèo,
Hiền lương bất luận khó nghèo cũng xinh.
Nhắc năm Gia Tĩnh triều Minh,
Nàng Kiều vì hiếu bán mình chuộc cha.
Tuy là lưu lạc bôn ba,
Đến khi mãn hạn bạn xưa cũng nhìn.
Ghét ưa ta cũng mặc tình,
Nghiệm kim suy cổ biện minh thế nào.
Bá gia kẻ thấp người cao,
Hiền thần hiếu nghĩa rán trau cho rồi.
Giảng nầy chỉ các điều tồi,
Khuyên dân hãy rán mà ngồi mà suy.
Thân Ta, Ta chẳng tiếc chi,
Miễn cho bá tánh nạn gì cũng qua.
Luận xem những việc sâu xa,
Chúng-sanh tưởng Phật thì là hãy coi.
Tháng ngày như thể đưa thoi,
Nguyện cầu thế giới bớt ngòi chiến tranh.
Ngồi buồn dân gặp chiếu manh,
Ta cho bá-tánh bức tranh vô hình.
Ai ai cũng rán xét mình,
Nếu còn tánh xấu thì rinh ra ngoài.
Cạn lời mà ý còn dài,
Hiến cho trần hạ một bài ngụ ngôn.
Tới đây Ta giã làng thôn,
Ngọc Thanh lui gót phi bôn Nam bKỳ.
Hiền thần sách sử nêu ghi,
Miễu son tạc để tu mi trung thần.
Thôi thôi cảnh khổ hầu gần,
Ta khuyên dân chúng ân cần nhìn xem.
Ra đời dạy dỗ anh em,
Xem qua ít bận rán đem vào lòng.
Người tu như thể bá tòng,
Ai ai cũng quí cũng trông cũng nhìn.
Sửa trau là phận của mình,
Xưa nay lời lẽ sử kinh rõ ràng.
Chừng nào ta gặp Hớn Hoàng,
Chúng sanh mới hết phàn nàn số căn.
Mạnh Tông xưa cũng khóc măng,
Đất khô nẩy mụt rõ lòng hiếu-nhi.
Mặc ai nhạo báng khinh khi,
Phần ta niệm chữ từ bi độ đời.
Muốn xem được Phật được Trời,
Thì là phải rán nghe lời dạy răn.

TRANG 13

Bá gia cùng các chư tăng,
Việc tu không đợi hương đăng làm gì.
Đời cùng tu gấp kịp thì,
Đặng xem báu ngọc ly kỳ Năm Non.
Phật thương bổn đạo như con,
Muốn cho bổn đạo lòng son ghi lời.
Nữa sau đến việc biết đời,
Bây giờ chưa thấy nó thời không tin.
Tới đây cũng dứt giảng kinh,
Nếu ai biết sửa tâm linh mới mầu.
Nam mô lòng sở nguyện cầu,
Chúc cho bá tánh muôn sầu tiêu tan.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (3 niệm)

Cầu Phật Tổ, Phật Thầy, quan Thượng Đẳng Đại Thần, chư quan Cựu Thần, chư vị Sơn Thần, chư vị Năm Non Bảy Núi phổ độ bá tánh vạn dân tiêu tai tịnh sự giải thoát mê ly.
154  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / SẤM GIẢNG GIÁO LÝ / Quyển 4: Giác Mê Tâm Kệ vào lúc: 03/16/09


Download MP3
Lổi bị hát không được đã sửa 4/17/2010


Quyển IV: Giác Mê Tâm Kệ

Đây là quyển thứ tư mà Đức Thầy đã viết ngày 20 tháng 9 năm Kỹ Mão (1939)
tại Hòa Hảo (846 câu)


        TRANG 1

Khai ngọn đuốc từ bi chí thiện,
Tìm con lành dắt lại Phật đường.
Thương dân hiền giáo đạo Nam phương,
Đặng chỉ ngõ làm lành lánh dữ.
Sách thánh đạo ghi trong Tam Tự,
Người mới sanh tánh thiện Trời dành.
Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh,
Nên tật xấu che mờ thiện tánh.
Thiếu giáo dục thiếu thêm đức hạnh,
Ta quyết lòng nhắc lại tánh xưa.
Mặc người đời gièm siểm ghét ưa,
Rừng kinh kệ ít người hay chữ.
Quá mắc mỏ bởi chưng Phạn ngữ,
Nên người đời khó kiếm cho ra,
Mõ chuông bày đọc tụng ó la,
Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa lý.
Dòm trước mắt thấy điều hồ mị,
Nên động tình bác ai dạy răn.
Réo những ai lợi dụng làm xằng,
Cho suy sụp chơn nhơn mù mịt.
Nào có khác mây đen phủ bít,
Rồi dắt nhau đến chỗ dại ngây.
Lấy tinh thần hiệp vén ngút mây,
Trong bổn đạo tự thân phải xử.
Xuống dương thế dạo trong lê thứ,
Thấy bá gia gặp lúc não nùng,
Cảnh trần gian nhiều nỗi lao lung,
Việc tu tỉnh ít người hiểu lý.
Trong bá tánh muốn nơi cao quí,
Hãy truy tầm huyền bí nơi cơ.
Từ sấm kinh cho đến thi thơ,
Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu.
Tạo làm chi những trung với hiếu !
Ấy là người bổn phận phải trau.
Khuyên dương trần đừng nệ cần lao,
Cũng rán sửa rán trau nền đạo.
Tu đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn cho rồi cái Đạo làm người.
Kể từ nay lỡ khóc lỡ cười,
Vì buồn bực thấy đời biến chuyển.
Các chư Phật từ đây lựa tuyển,
Coi ai là đức hạnh hiền từ.

        TRANG 2

Lời sách xưa cận thủy tri ngư,
Cận sơn lãnh trần gian tri điểu.
Trong sấm giảng nếu ai không hiểu,
Tầm kệ nầy Ta chỉ nẻo đường.
Quyết dạy trần nên nói lời thường,
Cho sanh chúng đời nay dễ biết.
Trời dông gió sái mùa sái tiết,
Nắng cùng mưa cũng khác xưa rồi.
Khuyên dương gian bỏ các việc tồi,
Đặng lo liệu cho tròn phận sự,
Thấy trần thế hãy còn lưỡng lự,
Muốn tu mà còn hỡi chần chờ.
Việc thế gian như thể cuộc cờ,
Thắng với thối một hai nước tướng.
Nào Ai có gạt dân nói bướng,
Mà dương trần liệu lượng chánh tà.
Ta mến yêu những kẻ thiệt thà,
Nghe cơ giảng thiết tha lo liệu.
Học đạo lý như đờn trúng điệu,
Hòa bản rồi thì cứ làm theo.
Lũ Tam Bành trong bụng còn đeo,
Đoàn Lục Tặc ta mau sớm giết.
Mài gươm trí cho tinh cho khiết,
Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.
Đức Di Đà Phật Tổ ngóng trông,
Chờ dân chúng tìm nơi diệt khổ.
Theo Phật Giáo từ kim chí cổ,
Gốc ông cha ta cũng tu hành.
Mà ngày nay cứ mãi tranh giành,
Danh với lợi của tiền quyền tước.
Thấy trần thế ai ai cũng ước,
Đời sao không tới phứt cho rồi.
Nay khổ lao khó đứng khôn ngồi,
Lúc đói cơm buồn lòng ngơ ngẩn,
Làm ác đức nhiều điều quanh quẩn,
Như gà cồ ăn bẩn cối xay.
Thấy người hiền nói đắng nói cay,
Sau mới biết thân ai lao khổ.
Nhớ thuở trước oai linh Phật Tổ,
Phép thần thông trừ lũ Ma Vương.
Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương,
Tìm đạo lý hiến cho trần thế.

        TRANG 3

Hiệu Lão Sĩ ra đời thật tế,
Đem lời vàng dạy dỗ dương trần.
Khuyên chúng sanh khuya sớm chuyên cần,
Tìm nguồn cội diệt trừ tứ khổ.
Bịnh với tử từ kim chí cổ,
Sanh với già hai chữ hoài hoài.
Đức Thích Ca xưa ở lầu đài,
Nghiệm tứ khổ nên Ngài tầm Đạo.
Lo tu tỉnh mặc ai khinh ngạo,
Diệt Lục Căn đừng nhiễm Lục Trần.
Chữ Sắc Thinh chớ có hầu gần,
Hương với Vị xác trần nên lánh.
Chữ Xúc Pháp treo gương Hiền Thánh,
Tránh sáu đường cũng đặng về Thần.
Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần,
Mà lê thứ chẳng lo chẳng liệu.
Nhãn thấy sắc thường hay bận bịu,
Tai ưa nghe những điệu âm thinh.
Mắt với tai đều chọn đẹp xinh,
Còn lỗ mũi ưa mùi êm dịu.
Đồ thơm tho nó ưa nó chịu.
Chốn xạ hương hay lết lại gần.
Lưỡi ưa ngon là chuyện ân cần,
Đồ ngọt béo nó ưa nó mến.
Thân tham sướng muốn tiền của đến,
Đặng ăn xài cho cho phỉ tấm tình.
Ý thì lo sửa sắc soi hình,
Với chức phận cho cao cho quí.
Sáu đường ấy ở trong tâm ý,
Ta mau mau dứt nó cho rồi.
Nếu tỉnh tâm chẳng có mấy hồi,
Mượn trí đạo đuổi ra khỏi xác.
Dứt được nó ấy là giải thoát,
Thì xác trần mới khỏi đọa đày.
Cả tiếng kêu những kẻ trí tài,
Hãy yên lặng bình tâm suy nghĩ.
Tiên xử kỷ, hậu lại xử bỉ,
Bắt lỗi người phải xét lỗi mình.
Vậy mới là chánh trực công bình,
Nẻo chánh trực chí người quân tử.
Người biết đạo phải gìn ngôn ngữ,
Nói với ai chớ có sai lời.

        TRANG 4

Trọng mẹ cha kính nể Phật Trời,
Đừng nhiều tiếng nghinh ngang mang lỗi.
Tánh ngay thẳng ta không dời đổi,
Dầu tan xương nát thịt chẳng màng.
Ta Khùng Điên nói đại nói càn,
Chẳng có sợ ai rầy ai mắng.
Trời còn lúc tối mưa sớm nắng,
Thì trần gian còn mãi khổ lao.
Ở trên đời kẻ thấp người cao,
Kẻ hiền hậu người thì gian ác.
Không quen biết mà cao tuổi tác,
Ta cũng nên kính trọng mới là.
Tâm từ bi sánh thể ngọc ngà,
Trong các báu khó bì tánh Thiện.
Phải xử thế chớ nên bày biện,
Miệng xảo ngôn thường kiện tấm thân.
Việc bán buôn phải giữ ngang cân,
Đừng tập tánh lận lường tráo đấu.
Các công cuộc của người tánh xấu,
Ta giữ gìn chớ có nhiễm vào.
Tâm Bần Tăng chẳng mến sắc màu,
Mến những kẻ biết vào đường chánh.
Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,
Nên truyền ban cho chúng sanh tường.
Tuy ngày nay chúng nó hùng cường,
Chừng phân định thì Ta cao quí.
Khuyên bổn đạo lập thân nuôi chí,
Đặng chờ ngày yết kiến Phật Trời.
Quá yêu dân cạn tỏ nhiều lời,
Cho trần hạ tìm trong lánh đục.
Chẳng chịu tu mãi còn lục thục,
Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành.
Ham công danh quên chữ sanh thành,
Mến phú quí quên câu dưỡng dục.
Rán kiếm chỗ tầm Tiên lánh tục,
Người ở đời phải được lòng trong.
Biển hồng trần sớm gội cho xong,
Ngày lập Hội mới mong trở lại.
Chữ bần tiện khuyên dân đừng nại,
Miễn cho ta trở lại ngay đàng.
Chữ vinh hoa giờ chớ có màng,
Bởi giả tạm của đời Ngươn hạ.

        TRANG 5

Gắng công tu gặp nhiều phép lạ,
Của Thần Tiên trừ lũ hung đồ.
Nào lụa là, lãnh nhiễu, tố sô,
Chớ ham mến mà sau lao lý.
Ngày tiêu diệt từ năm Bính Tý,
Đến năm nay hao hớt đã nhiều.
Các ngoại bang đà nhuộm máu điều,
Sao trần thế không toan chẳng liệu.
Để đến việc dang lưng mà chịu,
Chớ Phật đâu cứu kịp cho người.
Khuyên chúng sanh bỏ tánh biếng lười,
Phải sốt sắng làm ăn cần thiết.
Nghèo với đói từ đây sẽ biết,
Hàng ngoại bang bố thiết ta hoài.
Nên bá gia hãy ráng miệt mài,
Dầu rách rưới cũng mau cần kiệm.
Lời Ta dạy hãy nên suy nghiệm,
Phải phá tan Ngũ Uẩn trong mình.
Chữ Tham trong ý muốn mặc tình,
Rán định tánh trừ cho nó tuyệt.
Chữ gây gổ là Sân hãy diệt,
Cho nó đừng thấp thoáng trong lòng.
Thêm chữ Si thiệt quá lòng dòng,
Nên tỉnh trí tìm nơi dụt tắt.
Chữ Nhơn Ngã thật là quá gắt,
Ta chớ nên phân biệt với người.
Dẹp năm tên được mới mừng cười,
Vô pháp tướng mới là thiệt tướng.
Người tu hành phải trừ nghiệp chướng,
Với bốn ma mới đặng an nhàn.
Tửu nhiễm vào thân thể bất an,
Sắc mến nó ngày kia lao khổ.
Ta nghiệm xét từ thời Bàn Cổ,
Có ai dùng mà đặng thành Tiên.
Mà đời nay theo nó liên miên,
Chữ tài của khổ riêng một kiếp.
Bị tội cướp nào ai có tiếp,
Mà đời nay nó cứ mãi làm.
Chữ khí hùng khuyên chớ có ham,
Mà lao lý tấm thân trần thế.
Kẻ nhứt dạ thường sanh bá kế,
Để gạt người làm thế cho mình.
Ngày sau nầy lắm nỗi tội hình,
Sao sanh chúng chẳng lo cải sửa.

        TRANG 6

Bịnh ôn dịch thường hay ói mửa,
Mà dương trần chẳng chịu kiêng-dè.
Qua năm Dê đến lúc mùa hè,
Trong bá tánh biết ai hữu chí.
Ta chịu lịnh Tây Phương thọ ký,
Gìn Nghiệt Long đặng cứu dương-trần.
Nên ra đời dạy dỗ ân cần,
Khuyên bá tánh vạn dân liệu lấy.
Khổ với thảm ngày nay có mấy,
Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.
Trừ tà gian còn thiện chỉ tồn,
Cảnh sông máu, núi xương tha thiết.
Trần với thế bây giờ nào biết,
Chừng nhìn xem hư thiệt mới tường.
Ta bây giờ tu niệm tầm thường,
Sau danh thể xạ hương khắp chốn.
Nhà giàu có xài không sợ tốn,
Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn.
Lo ăn xài trà rượu xình-xoàng,
Chừng khổ não phàn nàn căn số.
Lời truyền sấm như bài toán đố,
Ai biết tầm thì đặng hưởng nhờ.
Ta khuyên tu dân cứ mãi ngờ,
Sợ gạt chúng kiếm xu kiếm cắc.
Bị ngoại quốc bán hàng quá gắt,
Nên dân ta chịu chữ cơ hàn.
Ta Khùng-Điên của cải chẳng màng,
Miễn lê thứ được câu hạnh phúc.
Cờ thế giới ngày nay gần thúc,
Nên Phật Tiên phải xuống hồng trần.
Chừng lao xao ác thú non Tần,
Thì Nam Quốc lương dân mới biết.
Nay dạy thế cậy cùng ngòi viết,
Với xác trần du thuyết ít hàng.
Ai nói chi Ta cũng chẳng màng,
Sao biết đặng dân đừng có tiếc.
Con phù-du hẫng hờ nào biết,
Thấy bóng đèn thì quyết chung vô.
Thảm thương thay chết héo chết khô,
Nhìn đèn nọ thấy mồ phù dũ.
Kệ khuyên trần đã mãn mùa thu,
Đeo danh lợi như con vật ấy.

        TRANG 7

Giống xe cát biển đông thường thấy,
Tên dã tràng rất uổng công trình.
Khi nước ròng nhờ lúc bình minh,
Lúc nước lớn cát kia tan rã.
Trần phú quí thì trần thong thả,
Chớ còn Ta cứ khổ lao hoài.
Viết kệ cơ ra giảng ít bài,
Mặc lê thứ làm không tự ý.
Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,
Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy.
Bởi chữ Khùng của Phật của Thầy,
Chứ chẳng phải của người lãng trí.
Mê với tỉnh nhận ra là lý,
Thấy dương trần ngủ mãi ngủ hoài.
Thức dậy mà tầm Đạo kiếm bài,
Để thi cử khỏi mang tiếng rớt.
Sách Khuyến Thiện miệng kêu không ngớt,
Mà nào ai có thức dậy tầm.
Ta nghĩ suy cũng bắt hỗ thầm,
Nên than thở cũng trần ít tiếng.
Tâm sáng suốt như đài nguyệt kiến,
Tánh trong như nước bích mùa xuân.
Nếu không tu chừng khổ cũng ưng,
Đừng có trách sao không chỉ bảo.
Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lão,
Mắc trong vòng sanh tử luân hồi.
Xuống Diêm Đình thấy tội hỡi ôi !
Đó mới biết có nơi địa ngục.
Kỳ xả tội nay còn một lúc,
Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ.
Gặp giảng kinh trần cứ làm ngơ,
Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.
Địa ngục cũng tại tâm làm quấy,
Về thiên đàng tâm ấy tạo ra.
Cái chữ Tâm mà Quỉ hay Ma,
Tiên hay Phật cũng là tại nó.
Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,
Nếu lặng tâm tỏ ngộ Đạo mầu .
Cảnh dương gian muôn thảm ngàn sầu,
Ngó vạn vật đài lầu chẳng có,
Sông với núi trước kia mắt ngó,
Khi chết rồi thấy nó đặng nào.
Ai biết đường hãy sớm tẩu đào,
Kiếm đạo lý mà nhờ mà nhỏi.
Chịu cay đắng tu hành mới giỏi,
Ta thương đời len lỏi xuống trần.

        TRANG 8

Đạo vô vi của Phật ân cần,
Nối theo chí Thích Ca ngày trước.
Câu phú quí Ngài không màng ước,
Chữ bồ đề như cội bá tòng.
Rán dưỡng nuôi chữ đó trong lòng,
Thì là được định chừng diệu quả.
Lời thuyết pháp chẳng vì nhơn ngã,
Người nào đâu có Phật tánh là.
Xem kệ nầy như ngọc như ngà,
Phải nảy nở như cơn mưa thuận.
Hạp mùa tiết giống kia bất luận,
Thảy mọc mầm trổ lá mới mầu.
Trông chúng sanh nghĩ tận đuôi đầu.
Về Cực Lạc mới là hết khổ.
Đạo với lý từ đây nhiều chỗ,
Phải lọc lừa cho kỹ mà nhờ.
Chọn nơi nào đạo chánh phượng thờ,
Thì mới được thân sau cao quí.
Nhìn Phật Giáo mà tìm cái lý,
Coi tại sao ta phải tu hành.
Vì yêu dân Ta kể ngọn ngành,
Khuyên lê thứ làm lành mà tránh.
Cảnh Niết Bàn là nơi cứu-cánh,
Về chốn ni xa lánh hồng trần.
Dầu không siêu cũng đặng về Thần,
Nhờ hai chữ trung quân ái quốc.
Chừng lập Hội biết ai còn mất,
Giờ chưa phân định được chánh tà.
Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc Tòa,
Đền Linh Khứu Sơn trung chịu mạng.
Nền đạo đức ta bày quá cạn,
Mà dương gian còn gạn danh từ.
Làm cho Ta lỡ khóc lỡ cười,
Khóc là khóc cho người ngu muội.
Thấy Điên Khùng làm như sắt nguội,
Chẳng tranh đương nó lại khinh khi.
Ngó về Tây niệm chữ từ bi,
Cười trần thế mê si thái quá.
Tranh với luận đặng giành cơm cá,
Khuyến dụ người đặng kiếm bạc tiền.
Thấy chúng sanh ghét ngỏ ganh hiền,
Theo chế nhạo những người tu tỉnh.
Tu không tu cũng không mời thỉnh,
Mặc tình ai trọng-kỉnh hay chê.
Thương lê dân còn mãng say mê,
Chẳng tu tỉnh cho rành sương nắng.

        TRANG 9

Thấy Ta lại nói cay nói đắng,
Đắng với cay Ta cũng chẳng màng.
Chừng trần gian kiến thấy phụng hoàng,
Sè cánh múa chào mừng Phật Thánh.
Thấy đạo lý chớ nào thấy tánh,
Còn ẩn nơi tim óc xác phàm.
Ai biết tri việc phải cứ làm,
Sau mới biết ai phàm ai Thánh.
Đức Lục Tổ ít ai dám sánh,
Người dốt mà nói pháp quá rành.
Lựa làm chi cao chữ học hành,
Biết tỏ ngộ ấy là gặp Đạo.
Việc cổ tích cần chi phải thạo,
Chuyện qua rồi kể lại làm gì.
Nếu ai mà biết chữ tu trì,
Tâm bình tịnh được thì phát huệ.
Ta yêu chúng viết ra Giảng Kệ,
Khuyên tăng đồ cùng các tín đồ.
Nghe cạn lời chớ có mơ hồ,
Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo.
Trần với thế nó hay kiêu ngạo,
Các nhà sư hãy ráng sửa mình.
Nếu xuất gia ngũ giới rán gìn,
Tu chơn chánh mới không hổ tiếng.
Cả ngàn năm nhơn tâm xao xuyến,
Sao tu hoài chẳng thấy ai thành.
Bởi chữ tu liền với chữ hành,
Hành bất chánh người đời mới nói.
Bị tăng chúng quá ham chùa ngói,
Nên tới khuyên khắp chốn cùng làng.
Phật nào ham tượng cốt phết vàng,
Mà tăng tạo hao tiền bá tánh.
Việc giả dối từ nay nên lánh,
Bổn-đạo ôi! hãy ráng sửa mình.
Cuộc dạy đời Ta lắm công trình,
Làm chẳng trọn uổng thay một kiếp.
Lời chơn-chánh trần hay bỏ liếp,
Mãi lo làm húng hiếp người hiền.
Mà làm cho Ngọc Đế thảm phiền,
Muốn trừng trị trần gian thảm thiết.
Đức Phật Tổ tâm ngài nhứt quyết,
Tâu Ngọc Hoàng để Phật dạy trần.
Nên ra Kinh, Cơ Giảng nhiều lần,
Mà dương thế chẳng cần xét đến.
Xác trần tục như cây cạnh khến,
Làm hiền hoài ắt phải tiêu mòn.

        TRANG 10

Đẽo với bào riết nó cũng tròn,
Đến chừng đó trông vào rất tốt.
Lũ giả dối thường hay thề thốt,
Nó chẳng kiêng Thần Thánh là gì.
Tâm kẻ hung làm chuyện cố lỳ,
Chẳng có sợ mang điều tội phước.
Ghét những kẻ tu hành bốc xước,
Miệng kêu gào chuyện phước bề ngoài.
Bước vào chùa thấy Phật lạy dài,
Ra khỏi cửa ra tay cấu xé.
Thấy quyền-quí nó hay dựa mé,
Đặng bợ bưng những kẻ hung sùng.
Ta thương đời nên nói chuyện cùng,
Chẳng có vị có dung kẻ quấy.
Cuộc sám hối vô chùa thường thấy,
Làm gian lừa biết mấy nhiêu lần.
Thấy dương gian lường gạt Thánh Thần,
Mà chua xót cho đời Ngươn Hạ.
Chữ tự hối nào ai có lạ,
Là ăn năn cải sửa tâm lành.
Phật chẳng qua dụng chữ tín thành,
Chớ đâu dụng hương, đăng, trà, quả.
Làm chay đám tạo nhiều xá-mã,
Bay về Tây nói những chuyện gì?
Thấy chúng tăng làm chuyện quái kỳ,
Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ.
Lời chơn chánh hình như nói xỏ,
Mà không không nào có biếm đời.
Thấy lạc lầm khuyên nhủ ít lời,
Chớ nào có ngạo chi tăng chúng.
Coi tâm kệ làm theo mới trúng,
Để lạc lầm lắm bớ tăng đồ !
Định tâm thần như mặt nước hồ,
Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối.
Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,
Ghi vào lòng sáu chữ Di Đà.
Thì hiền lương quên mất điều tà,
Đặng hạnh phúc nhờ lòng cố gắng.
Việc đạo đức chẳng cần thối thắng,
Chũ tu hiền ngay thẳng lần hồi.
Thấy thiên cơ khó nỗi yên ngồi,
Thương lê thứ tới hồi khổ não.
Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,
Như vịt con dìu dắt nhờ gà.
Phải nghĩ suy cạn lẽ mới là,
Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.
Để gặp Phật ngồi mà than khóc,
Gở làm sao hết rối mà về.
Mắt nhìn xem yêu quái bốn bề,
Bởi ác đức nên không ai cứu.

        TRANG 11

Mang thủy ách hồi năm Đinh Sửu,
Đến năm nay tái lại một lần.
Khổ ách nầy đặng thức tỉnh trần,
Rằng thiên định tuồng đời sắp hạ.
Trẻ nhỏ tuổi đời nầy lăng mạ,
Bị văn minh cám dỗ loài người.
Kể từ rày cười một khóc mười,
Kẻo chúng nó dễ ngươi Phật Thánh.
Đạo Quỉ Vương thật nhiều chi nhánh,
Khuyên dương trần sớm tránh mới mầu.
Để ngày sau đến việc thảm sầu,
Rán nghe kỹ lời Ta mách trước.
Thuyền chúng nó thẳng buồm chạy lướt,
Lọt ngoài khơi mới hết hò khoan.
Tu mà ham cho được giàu sang,
Với quyền tước là tu dối thế.
Nhớ thuở trước vua Lương Võ Đế,
Tạo chùa chiền khắp nước tu hành.
Đến chừng sau ngạ tử Đài thành,
Phật bất cứu vì tâm còn ác.
Tu biết cách như đươn biết đát,
Đươn đát rành đặng dựa Xe Loan.
Ai biết nghe thì sớm liệu toan,
Để đến việc như người thất nghiệp.
Phải qui căn cùng nhau hội hiệp,
Rán mau chơn mới kịp Đạo mầu.
Sớm với chiều gắng chí nguyện cầu,
Thì sẽ được Tòa Chương dựa kế.
Chúng sanh thể như gà thất thế,
Phải nằm chờ tới nước bắt ra.
Thời kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,
Trời mở cửa Quỉ Vương xuống thế.
Nên Ta mới ra tay cứu tế,
Kẻo chúng sanh bịnh khổ quá chừng.
Sau Quỉ Vương đi đứng nửa lừng,
Thêm tên tuổi chúng sanh nó biết.
Làm đủ cách xuống lên tha thiết,
Ở ngoài đường nó biết tên mình.
Tin hay không thì cũng mặc tình,
Chớ Ta lắm công trình dạy dỗ.
Hồi thuở trước Thích Ca Phật Tổ,
Ngồi tham thiền bị nó ghẹo hoài.
Mà cũng không rúng động đặng Ngài,
Nên cố oán phá đời mãi mãi.

        TRANG 12

Trong bổn đạo cùng là sư vãi,
Rán bền lòng cho được hiền từ.
Hết khổ lao thì đến vui cười,
Chừng đó mới phỉ tình nguyện ước.
Bọn gái mới ra đường tha thướt,
Bỏ hết trơn nề nếp ông cha.
Khác tánh tình người cổ nước Ta,
Nên phải chịu đớn đau đủ cách.
Trai với gái rán coi sử sách,
Đứng trung thần với kẻ tiết trinh.
Dọn bề trong mới gọi đẹp xinh,
Chớ mang lớp bề ngoài chẳng tốt.
Dạy chẳng đặng lòng như lửa đốt,
Khắp dương gian chưa đặng ba phần.
Kể từ đây Tiên ,Phật ,Thánh ,Thần,
Lo dạy dỗ dương trần chẳng xiết.
Đức Thượng Đế ngự đền Ngọc Khuyết,
Nhìn dương gian cũng luống thở dài.
Thấy chúng sanh trau trỉa mặt mài,
Chớ chẳng chịu trao tâm trỉa tánh.
Kẻ đói khó người sang hay lánh,
Bước lại gần chê lũ tanh hôi.
Cõi ta bà Ta thấy hỡi ôi !
Sầu bá tánh quá nên kiêu cách.
Người tàn tật đui cùi đói rách,
Ít có ai để mắt nhìn vào.
Chuộng những người dù võng sắc màu,
Cậu với mợ, ông, thầy, cô, bác.
Thị kẻ khó như rơm như rác,
Ta quá rầu đài các văn minh.
Mấy ai mà giữ dạ sắc đinh,
Theo Tông Tổ của mình thuở trước.
Đầu với tóc áo quần láng mướt,
Chữ lanh khôn của quỉ của ma.
Chớ nó không có giống người ta,
Ma với quỉ sanh người hung ác.
Lo tập luyện những câu đờn hát,
Chớ chẳng lo dạy dỗ ngu khờ.
Để cái tâm yên lặng như tờ,
Coi Ta nói câu nào bất chánh?
Rán bắt chước làm theo Phật Thánh,
Nếu thiệt người thì biết thương người.
Thấy kẻ khờ quê dốt ngạo cười,
Nào có lấy lời chi chỉ bảo.
Ta thương xót lo tần lo tảo,
Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền.
Làm cho người Thượng Cổ thêm phiền,
Rất đau xót cho nòi cho giống.
Biết chừng nào đươc qui nhứt thống,
Khắp hòan cầu dân biết thương nhau.
Nhắc ra thì dạ ngọc đớn đau,
Không nhắc đến biết đâu dân sửa.
Cơm được chín ta nhờ có lửa,
Dân được vui nhờ lúc khải hoàn.
Phật Như Lai cho phép Khùng troàn,
Cho bổn đạo khắp nơi đặng biết.
Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,
Đợi cho người hết giận ta khuyên.
Chữ nhẫn hòa ta để đầu tiên,
Thì đâu có mang câu thù oán.
Việc hung ác hễ vừa thấp thoáng,
Chữ từ bi ta diệt nó liền.
Sự oán thù đáp lại chữ hiền,
Thì thù oán tiêu tan mất hết.

        TRANG 13

Chữ bạn tác dầu cho đến chết,
Cũng keo sơn gắng chặt mới là.
Bước ra đường ăn nói thiệt thà,
Dù khôn khéo cũng là giả dại.
Nếu tranh dương ắt ta bị hại,
Thêm sa cơ lại bị xích xiềng.
Vì đời nay chúng nó dụng tiền,
Ít ai dụng chữ nhơn chữ nghĩa.
Theo học đạo mặc ai mai mỉa,
Ta cũng đừng gây gổ với người.
Được mấy điều thì đáng vàng mười,
Thiệt hiền đức có ai mắng chưởi.
Xưa đức Thánh luận bàn cái lưỡi,
Ngài nói rằng các việc tại mầy.
Thận với hòa hay ghét với rầy,
Cũng cái lưỡi làm thầy các việc.
Phải kiếm cách đặng ta trừ tuyệt,
Lấy tâm thần làm chủ mới mầu.
Cũng chẳng nên theo tánh võ hầu,
Thấy chẳng nói mà nhăng mà nhướng.
Hãy liệu sức chớ nên nói bướng,
Dầu việc chi liệu lượng mà làm.
Điên Khùng nầy chẳng có nói xàm.
Nói những chuyện từ bi bác ái.
Nếu bổn đạo còn ai làm sái,
Coi kệ này thì sửa lấy mình.
Ta không tranh mà cũng không kình,
Cho bá tánh gièm pha thỏa chí.
Ai làm phước in ra mà thí,
Thì được nhiều hạnh phúc sau này.
Chốn non xanh dạy dỗ cáo cầy,
Xuống trần thế ra tay dắt chúng.
Tới với Ta chớ đem đồ cúng,
Chỉ đem theo hai chữ thành lòng.
Chẳng có cần trà, quả, hương nồng,
Mong sanh chúng từ lòng hối ngộ.
Kẻ xa xuôi có lòng ái mộ,
Xem kệ này tu tỉnh tại nhà.
Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,
Phật chẳng chấp chẳng nài thờ khắc.
Chay bốn bưã ấy là quy tắc,
Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng sanh.
Con Phật thì chẳng có khôn lanh,
Đời văn vật khôn ma khôn quỉ.
Lo trang sức kim thời huê mỹ,
Rồi phụ phàng tục cổ nước nhà.
Trong tâm thì chứa chữ gian tà,
Chớ chẳng chứa tấm lòng bác ái.
Học chữ nghĩa cho thông cho thái,
Đặng xuê xang đài các xe tàu.

        TRANG 14

Tiếng chào mừng cửa miệng làm màu,
Trong tâm ý mưu đồ đủ thế.
Ta còn mắc phiêu lưu dương thế,
Dạo Lục Châu đặng cứu bá gia.
Mặc tình ai xem kệ ngâm nga,
Hay sửa đổi tùy lòng hưu hỷ.
Thương sanh chúng tỏ bày quá kỹ,
Hỡi dương trần nên sớm quày đầu.
Đặng sau xem Phật pháp nhiệm mầu,
Với báu quý đài lầu tươi tốt.
Xác ta vốn là người quê dốt,
Nên mở mang chưa được mấy rành.
Khắp dương gian như sợi chỉ mành,
Mong bổn đạo tâm thành trở lại.
Dầu cực khổ thân này chẳng ngại,
Chẳng cần ai bái lạy khẩn cầu.
Bỏ dị đoan mới thấy Đạo mầu,
Bớt giả dối gặp người Thượng Cổ.
Gốc thuở trước của Tông của Tổ,
Đâu có bày dối mị như vầy.
Những sấm truyền xưa của Phật Thầy,
Dân rán kiếm mà truy thì biết.
Xưa để lại nhiều câu thảm thiết,
Mà nào ai có biết để lòng.
Chuyện thiên cơ nói rất não nồng,
Câu hữu lý bá tòng khó sánh.
Chốn tựu hội chớ nên léo hánh,
Vì lời xưa có dặn rạch ròi.
Dân chớ nên phụ bạc giống nòi,
Mà lao lý tấm thân vô ích.
Phải nhẫn nhục chờ người Cổ Tích,
Phật với Trời phân định cho ta.
Người xưa tuy ít chữ nôm na,
Chớ chơn chất người ta ngay thẳng.
Dạy bổn đạo lấy câu trung đẳng ,
Chẳng nói cao vì sắp rốt đời.
Đắng nam nhi ẩn nhẩn tùy thời,
Vậy mới gọi khôn ngoan hữu chí.
Ta ra sức viết câu huyền bí,
Chúng dân ôi! rán kiếm rán tầm.
Giống thú kia là loại sanh cầm,
Mà còn biết kiếm tầm đạo đức.
Thú vật biết tu hành náo nức,
Con người sao chẳng rứt hồng trần?
Việc tu hành phải vẹn nghĩa ân,
Kinh với Sấm chúng dân thường thấy.
Chữ Bát Chánh rõ ràng trong giấy,
Là chơn truyền của Đức Thích Ca.
Người tu hành cần phải tìm ra,
Cho dân biết mục đầu Chánh Kiến.

        TRANG 15

Trí linh mẫn nhìn xem các chuyện,
Phải đừng cho lầm lạc nẻo tà.
Dầu việc người hay việc của ta,
Nên phán đóan cho tường cho tận.
Tội với phước xét coi nhiều bận,
Mới khỏi lầm tà kiến đem vào.
Chánh Tư Duy mục ấy thanh cao,
Hãy tưởng nhớ những điều đáng nhớ.
Trên cùng dưới dầu thầy hay tớ,
Cũng tưởng điều trung chánh mới mầu.
Việc vui say mèo mả đâu đâu,
Hãy dẹp gát nhớ câu Lục Tự.
Câu Chánh Nghiệp cũng là quá bự,
Dầu nghề chi làm việc ngay đường.
Ta đừng nên theo kẻ bất lương,
Học ngón xảo để lừa đồng loại.
Chánh Tinh Tấn dù thành hay bại,
Cứ một đường tín ngưỡng của mình.
Dầu cho ai phá rối đức tin,
Ta cũng cứ một đàng đi tới.
Mục Chánh mạng chúng sanh ơi hỡi,
Cho hồn linh cai quản châu thân.
Lấy chơn nhơn dẹp tánh phàm trần,
Mới có thể mong về Cực Lạc.
Câu Chánh ngữ lòng son ghi tạc,
Tiếng luận bàn ngay ngắn tỏ tường.
Nói những điều đức hạnh hiền lương,
Chớ thêm bớt mà mang tội lỗi.
Việc tráo chác ấy là nguồn cội,
Lời xảo ngôn do đó mà ra.
Kinh nghiệm rồi Ta mới diễn ca,
Câu Chánh niệm thiết tha nhiều nỗi.
Khi cầu nguyện đừng cho phạm lỗi,
Phải làm tròn các việc vẹn toàn.
Dân chớ nên làm bướng làm càn,
Trong lúc ấy niệm cho lấy có.
Mục Chánh Định thiệt là rất khó,
Giữ tấm lòng bất động như như.
Cho hồn linh yên lặng an cư,
Thì mới được huờn nguyên phản bổn.
Tà với chánh còn đương trà trộn,
Người muốn tu phải sớm lọc lừa.
Tứ diệu Đề ai có mến ưa,
Thì lão cũng kể sơ thêm nữa.
Chữ Tập Đề nay đà mở cửa,
Để đem vào khuôn khổ người hiền.
Rán cực lòng một bước đầu tiên,
Sau mới được làm nên Phật Thánh.
Về Thượng giái cõi Tiên mới bảnh,
Đến Diệt Đề trừ vật dục xưa.

        TRANG 16

Cõi hồng trần các việc mến ưa,
Sự giả tạm ta nên rứt bỏ.
Muốn tâm tánh ngày kia sáng tỏ,
Thì Khổ Đề phải chịu nhọc nhành.
Lòng dục tu thì phải thiệt hành,
Chớ đừng có ham điều sung sướng.
Đức Phật Tổ nào đâu hẹp lượng,
Chịu nhọc nhằn mới rõ Đạo Đề.
Thấy một đàng thẳng bẳng mà mê,
Ôi chừng đó mới là mầu nhiệm.
Mùi đạo diệu chúng dân rán kiếm,
Trễ thời kỳ khó gặp đặng Ta .
Rồi hành luôn Bát Nhẫn mới là,
Thì muôn việc đều an bá tuế.
Chữ thứ nhứt Nhẫn Năng Xử Thế,
Là người hiền khó kiếm trên đời.
Lập thân danh tuần trải nơi nơi,
Chờ thời đại mới là khôn khéo.
Chữ Nhẫn giới trì tâm trong trẻo,
Khuyên dương trần giữ phận làm đầu.
Nhẫn Hương Lân cùng khắp đâu đâu,
Trên cùng dưới đều hòa ý hỉ.
Nhẫn Phụ Mẫu gọi trang hiền sĩ,
Phận xướng tùy chồng vợ nhịn nhau.
Nhịn xóm chòm cô bác mới cao,
Nhẫn Tâm nọ ngày ngày an lạc.
Nhịn tất cả những người tuổi tác,
Nhẫn Tánh lành yên tịnh dài lâu.
Giữ một lòng hiền hậu mới mầu,
Quanh năm cũng bảo toàn thân thể.
Chữ Nhẫn Đức kể ra luôn thể,
Thì trong đời vạn sự bình an.
Chữ Nhẫn Thành báu quí hiển vang,
Khắp bá tánh được câu hòa nhã.
Câu đạo đức bay mùi thơm lạ,
Muốn nếm thì phải rán sưu tầm.
Các Đạo tà mưu khéo âm thầm,
Dân rán tránh kẻo lâm mà khổ.
Chúng nó xuống khuyên răn nhiều chỗ,
Dùng phép mầu lòe mắt chúng sanh.
Ai ham linh theo nó tập tành,
Sa cạm bẫy khó mong sống sót.
Ta chẳng phải dùng lời chuốt ngót,
Mà làm cho dân chúng say mê.
Nẻo chánh tà biện luận nhiều bề,
Cho bá tánh tìm nơi cội gốc.
Lựa cho phải kèo xưa danh mộc,
Đừng để lầm thợ khéo sơn da.
Thì sau nầy đến lúc phong ba,
Giông gió lớn cột kèo khỏi gãy.

        TRANG 17

Thấy sanh chúng nhiều người khờ dại,
Chẳng biết gìn phong hóa lễ nghi.
Nên ta đem đạo đức duy trì,
Gìn tục cổ để người chẳng rõ.
Còn chậm chạp Đạo mầu chưa tỏ,
Như rừng hoang mới dọn một đường.
Tớ với Thầy nào quản thân lươn,
Muốn cứu thế xá chi bùn trịn.
Thương quá sức nên ta bịn rịn,
Quyết độ đời cho đến chung thân.
Nếu thế gian còn chốn mê tân,
Thì Ta chẳng an vui Cực Lạc.
Dạy bổn đạo lấy lời chính xác,
Mà chẳng tu là bởi không ưa.
Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,
Dân đông đảo lời truyền chẳng xiết.
Nên phải tạm mượn cây ngòi viết,
Đem Đạo mầu như hạn cho mưa.
Đăng tố trần tâm ý Người Xưa,
Chữ thậm thâm trong kinh Phật Giáo.
Nền chơn lý chúng chê rằng láo,
Mà nào Ta có lợi dụng ai.
Trong bá gia nhiều ít lòng chay,
Để giữ trọn trong nền Phật Pháp.
Gìn giới cấm sửa tâm ô tạp,
Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.
Nhớ từ bi hai chữ ngâm nga,
Dầu làm lụng cũng là trì chí.
Chờ Thiên Địa châu nhi phục thỉ,
Như đời xưa có gã Tử Phòng.
Xem thời cơ người đã rõ thông,
Dùng tôi thiểu mà an bá tánh.
Đời vật chất văn minh tranh cạnh,
Chữ lợi quyền giựt giết lẫn nhau.
Động lòng hiền chư Phật đớn đau,
Cho kinh sấm dạy răn trần thế.
Nhìn thấy chuyện gạo châu củi quế,
Nghèo bạc vàng đạo đức cũng nghèo.
Ta xuống trần nhằm lúc nạn eo,
Nên phải bị kẻ hung khinh bỉ.
Vì bác ái nên thân Cuồng Sĩ,
Phải chịu điều khổ hạnh sâu xa.
Mong cho đời gặp lúc khải ca,
Trong bốn biển thái bình mới toại.
Phật, Tiên, Thánh, lòng nhơn hà hải,
Những ước ao thế giới hòa bình.
Nên khuyên đời truyền bá sử kinh,
Cho sanh chúng sửa mình trong sạch.
Giàu đổi bạn khinh khi kẻ rách,
Là những câu trong sách Minh Tâm.

        TRANG 18

Tánh kẻ sang đổi vợ nào lầm,
Thánh nhơn để nhiều câu hữu lý.
Có mấy kẻ ăn năn xét kỹ ?
Mãi ỷ tài chê bướng chê càng.
Thì ngày sau đừng có trách than,
Những tội lỗi của mình tạo lấy.
Bị háo thắng việc người không thấy,
Rồi mảng lo gièm siểm nhiều lời.
Vì vậy nên tình nghĩa xe lơi,
Đâu gần gũi mà tường diệu lý.
Trong Lục tỉnh ai là người trí,
Mau thức thời tìm Đạo nhiệm sâu.
Khuyên dân đừng chia rẽ áo bâu,
Phải hợp tác gieo trồng giống quí.
Coi rồi phải thân mình tự trị,
Chẳng độ xong Phật khó dắt dìu.
Thả thuyền Từ bến Giác nâng niu,
Kẻ hiểu Đạo mau mau bước xuống.
Việc trải qua như mây gió cuốn,
Nhìn cuộc đời ngày tháng thoi đưa.
Trời sáng ra kế lại thấy trưa,
Năm cũ đó rồi qua năm mới.
Mười hai tháng mà còn mau tới,
Thì tuồng đời cũng chóng đổi thay.
Chữ phù vân phú quí nay mai,
Luân với chuyển dời qua đổi lại.
Cõi Ta Bà mấy ai tồn tại,
Sống dư trăm như tuổi lão Bành.
Đời Hạ Ngươn hay chết tuổi xanh,
Như thuở trước Nhan Hồi còn trẻ.
Miễn cho được ngày hai cơm tẻ,
Buổi bần hàn đặng có tu thân.
Nhờ ơn Trời ban bố đức ân,
Xem chung cuộc Phong Thần tại thế.
Xử những kẻ hung hăng tồi tệ,
Thưởng những người trung nghĩa vẹn tòan.
Ra kệ này hai chữ bảo an,
Cho trần thế được tâm thanh tịnh.
Ngọc báu quí ẩn trong Nam đỉnh,
Muốn tìm kim đáy biển gắng công.
Thấy dân tình luống những ước mong,
Gặp giống tốt hãy mau cày cấy.
Ai có nói Ta là người quấy,
Ta cũng cam bụng chịu tiếng đời.
Tỏ ít câu cầu chúc cho đời,
Mong bá tánh vạn dân giải thoát.

Hòa Hảo, ngày 20 tháng 9 năm Kỷ mão (1939)
 
155  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / SẤM GIẢNG GIÁO LÝ / Re: Quyển 5 - Khuyến Thiện vào lúc: 03/15/09
Kể từ nay phải giữ cho tròn,
Không chừa dứt ắt mang tai ách.
Lựa lời tiếng diệu dàng trong sạch,
Khi thốt ra đoan chánh hiền từ.
Tích thiện thì thường có phước dư,
Bằng tích ác họa ương đeo đắm.
Ác Vọng Ngữ thứ tư cũng cấm,
Nói thêm thừa huyễn hoặc đủ điều.
Ghét người thời kiếm chuyện dệt thêu,
Thương viện lẽ thấp cao bào chữa.
Đời bất công mấy ai xem sửa,
Trên điêu ngoa dưới chẳng phục tòng.
Khuyên nhơn sanh lấy lẽ chí công,
Mà ăn ở nói năng chơn chất.
Phật từ bi độ trong nhơn vật,
Là luật kinh dạy rất tinh tường.
Nếu chẳng nghe hồn vướng tai ương,
Chừng ấy mới kêu mời khó rước.
Người dương thế chẳng ưa bốc xước,
Phật Thần nào gần kẻ xảo ngôn.
Đã tu hành đừng có bôn chôn,
Tưởng hay giỏi khoe khoang tài cán.
Người hiểu rành mới càng thêm chán,
Chi bằng ta bỏ lối trớ trêu.
Nói với ai cũng phải lựa điều,
Đừng tráo chác cho người khinh dể.
Ác tà dâm thứ năm càng tệ,
Chúa hôn mê chiếm đọat thê thần.
Làm đảo huyền tất cả quốc dân,
Tôi bất chánh hòang cung dâm lọan.
Tội lỗi ấy diễn nhiều thảm trạng,
Từ xưa nay Trời đất đâu dung.
Giàu của nhiều dâm hiếp bần cùng,
Quan lấn thế dâm ô dân khó.
Trai liều lĩnh điều này nên bỏ,
Đừng phá trinh hại tiết nữ nhơn.
Gái lẳng lơ tiếng huyễn lời đờn,
Hoa có chủ đèo bồng tình mới.
Cất tiếng gọi nữ nam ơi hỡi,
Bỏ những điều điếm nhục tông môn.
Đứng nam nhi học lấy điều khôn,
Lòng trung hiếu gìn theo đạo lý.
Hàng phụ nữ gương xưa nối chí,
Những mẹ hiền dâu thảo roi truyền.
Niệm Phật mà gây lấy thiện duyên,
Cho đẹp mặt Tổ Tiên nòi giống.
Thờ Phật Đạo tỉnh cơn ác mộng,
Thoát mê đồ thường phóng quang minh.
Rán hiểu rành tiếng kệ lời kinh,
Ác thứ sáu ấy là Đạo Tặc.
Lấy của người sắm ăn sắm mặc,
Chẳng kể công nước mắt mồ hôi.
Phá lương dân dạ luống bồi hồi,
Ngày làm lụng đêm lo gìn giữ.
Trốn pháp luật tập tành đủ thứ,
Nào đào tường, khóet vách,khuân đồ.
Tội chập chồng đâu biết ở mô,
Trốn người khỏi trốn Trời sao khỏi.
Nay đuốc huệ Từ Bi đã rọi,
Vào thâm tâm những kẻ gian phi.
Hãy tu thân chừa thói vô nghì,
Của phi nghĩa làm chi xong chuyện.
Luật nhân quả thật là cao viễn,
Suốt cổ kim chẳng lọt một ai.
Vậy ta nên làm việc thẳng ngay,
Cứ bền chí có ngày thong thả.
Ác thứ bảy Sát Nhơn gây vạ,
Tánh hung hăng đâm chém chặt bầm.
Chất chứa điều hung dữ trong tâm,
Chờ đắt thế ra tay hạ sát.
Viết đến đây đọng lòng rào rạt,
Gẫm nhiều người bội bạc thâm ân.
Nào kể chi là đạo Quân Thần,
Tôi giết chúa, con đành sát phụ.
Lúc nguy cơ tớ mong hại chủ,
Trò giết thầy tội đó đáng không?
Thêm chồng giết vợ,vợ giết chồng,
Niềm huynh đệ cùng nhau xâu xé.
Cũng hiếm lúc con còn giết mẹ,
Giành của tiền cốt nhục giết nhau.
Tranh lợi danh giết lẫn đồng bào,
Tình nhơn loại phân chia yểm bách.
Giết sanh vật đầy lòng kiêu cách,
Tưởng rằng mình như thế là ngoan.
Khuyên bá gia bá tánh việt đàn,
Chớ sát hại mạng người như thế.
Bớt giết vật đặng mà cúng tế,
Gẫm Thánh Thần đâu có tư riêng.
Rủi ốm đau bởi tại căn tiền,
Họăc hiện kiếp làm điều bạo ác.
Phải ăn năn phước điền tạo tác,
Lo thuốc thang khẩn vái Phật Trời.
Nguyện sửa lòng ắt Phật giúp đời,
Xuống phước rộng từ bi hỉ xả.
Đấng Thần Minh công bình trực dạ,
Đâu ăn lo đổi họa làm may.
Mở tâm linh nghĩ đến đọan nầy,
Điều họa phước ấy cơ báo ứng.
Chẳng biết thân còn toan chứa đựng,
Quả bất lành chưa trả vay thêm.
Cầu cho đời sống lặng gió êm,
Đặng bá tánh an nhàn tu niệm.
Ác thứ tám là Lòng Tham Hiểm,
Muốn bao gồm của thế một mình.
Tham nhà cao, cửa rộng, thân vinh,
Tham vườn rộng cò bay thẳng kiếng.
Thấy của người thèm khô nước miếng,
Tính làm sao lường gạt lấy đi.
Sẵn túi tham bất cứ chuyện gì,
Dầu xấu tốt cũng là dồn chứa.
Nhớ lời Phật khi xưa dạy sửa,
Của thế trần như mật dính dao.
Kẻ tham ăn kê miệng liếm vào,
Chừng đứt lưỡi mới là hối hận.
Tham của tạm làm điều tàn nhẩn,
Nhắm mắt rồi đâu có mang theo.
Tham tiền tài thường vướng nạn eo,
Tham sắc đẹp nhà tan cửa nát.
Lúc tận số nằm trơ một xác,
Gẫm kim tiền bội bạc bất tài.
Không làm cho ta được sống dai,
Lại chẳng bước tiễn đưa một bước.
Thà nghèo thanh hơn giàu mà trược,
Lo vun trồng cội phước về sau.
Muốn trừ tham phải liệu cách nào,
Tâm chánh niệm thường thường suy nghĩ.
Vật ở trần như bọt nước mây,
Thân ta đây rày đó mai đây.
Của ấy cũng khi tan khi hiệp,
Ác thứ chín Hận Sân luận tiếp.
Lửa trong tâm chẳng đốt mà lừng,
Nổi lôi đình đâu có định chừng.
Cho ta biết mà toan giữ trước.
Tánh sân nộ thường làm bạo ngược,
Nên loài người ở cõi thế gian.
Giận hờn nhau thù oán dẫy tràn,
Mới có cuộc tranh tài đấu đấu lực.
Hơn tự đắc khoe khoang dõng sức,
Phải bị người hềm khích ghét ganh.
Thua hổ ngươi làm chuyện bất lành,
Gây nghiệp dữ oan oan tương báo.
Trong cơn giận kể gì nhơn đạo,
Tỷ như con cọp dữ trên rừng.
Gặp thịt toan cấu xé tưng bừng,
Phân từng mảnh mới là thỏa dạ.
Diệt được nó tâm trần thong thả,
Ta thường nên tập tánh khoan dung.
Thiệt hành đi đừng có ngại ngùng,
Tha thứ kẻ lỗi lầm ngu xuẩn.
Và nhẫn nhịn đừng ham tranh luận,
Khỏi mất lòng tất cả mọi người.
Tánh thuần lương vẻ mặt vui tươi,
Vậy mới đáng tín đồ Phật Giáo.
Nay ta đã quy y cầu Đạo,
Gây gổ là trái thuyết từ bi.
Ác thứ mười đọan chót Mê Si,
Nguyên tâm tối từ hồi vô thỉ.
Màn vô minh che mờ căn trí,
Nên thường khi nhận ngụy làm chơn.
Lo huyễn thân vật chất kém hơn,
Chẳng cần biết tinh thần đạo đức.
Dệt lưới nghi theo điều phiền phức,
Bịn rịn đời cực khổ tang thương.
Khi nói làm ít chịu suy lường,
Mãi phạm tội nên rằng nghiệp ác.
Diệt mê si phải nương thuyền giác,
Muôn việc làm chính trực khôn ngoan.
Đừng bạ đâu tin bướng nghe càn,
Làm ngu muội đọa thân uổng kiếp.
Ác trừ xong hiện ra thiện nghiệp,
Lóng Nguồn chơn Phật tiếp dẫn cho.
Trồng cây lành vị quả thơm tho,
Tuy không thấy mà sau chẳng mất.
Dù ai có cười ta khờ khật,
Cũng đừng phiền sao lãng chơn tâm.
Mong tiếng kêu thấu đến Tòng lâm,
Cùng thiện tín bá gia hưởng ứng.
Muốn Phật Giáo từ đây bền vững,
Đừng riêng lo lợi dưỡng một mình.
Nếu xuất gia thì phải hy sinh,
Cả vật chất tinh thần lo Đạo.
Chớ giả dối mà mang sắc áo,
Mượn bồ đề chuỗi hột lèo người.
Làm cho dân khinh dể ngạo cười,
Tội lỗi ấy luật nào dung thứ.
Tu còn ham chay to đám bự,
Đặng thế gian dưng cúng bạc tiền.
Dối rằng: lo tu bổ chùa chiền,
Mà làm của xài riêng cho thỏa.
Bảo làm sao dân không sa ngã,
Nghe lời rù tông nọ phái kia.
Cả tăng đồ trong nước chia lìa,
Riêng pháp bảo, riêng chùa, riêng Phật.
Trong bá tánh sầu thành chất ngất,
Mãi nghi nan chẳng biết đàng nào,
Lòng mến yêu chẳng nệ công lao,
Mượn bút mực đôi lời trần thuyết.
Tùy thiện tín hiểu ta giả thiệt,
Làm hay không chẳng dám ép nài.
Nguyện mười phương chư Phật đáo lai,
Đồng tiếp dẫn chúng sanh giải thóat.

KỆ

Đêm thanh hiên nguyệt dựa kề,
Nhìn xem thế sự não nề tâm can.
Từ ta nương chốn Phật đàng,
Dứt tâm trần cấu chẳng màng vinh huê.
Trần hoàn thiện tín còn mê,
Thêm lời giục thúc gọi về đàng tu.
Dốc lòng vạch ngút mây mù,
Đặng dìu bá tánh đường tu chen vào.
Lời Thầy cạn tỏ âm hao,
Để truyền hậu thế vàng thau lọc lừa.
Tu cầu thuận gió hòa mưa,
An hòa nhơn vật phước thừa trời ban.
Tu cầu thoát chốn gian nan,
Cầu trong chư quốc chư bang giao hòa.
Tu cầu yên nước lợi nhà,
Cửu huyền Thất Tổ Diêm La thoát hình.
Tu cầu Phật hóa tánh tình,
Lưới mê chẳng buộc nhẹ mình tiêu dao.
Tu cầu cửa Phật đặng vào,
Gót sen thong thả xiết bao thanh nhàn.
Tu cầu bệnh tật tiêu tan,
Từ bi hỉ xả Phật ban phép lành.
Tu cầu thoát khỏi tử sanh,
Nương theo Phật Quốc lời lành hằng nghe.
Cõi trần đừng đắm ngựa xe,
Đeo tuồng mộng huyễn lập lòe sắc hương.
Tu cầu trăm họ hiền lương,
Đồng thinh niệm Phật tai ương chẳng còn.
Tu cầu gia đạo vuông tròn,
Chồng hòa vợ thuận cháu con thảo hiền.
Tu cầu thóat khỏi xích xiềng,
Dựa kề chơn Phật xa miền trần lao.
Tu cầu chóng hết binh đao,
Gặp đời bình trị xiết bao vui vầy.
Mắt nhìn chư Phật đông dầy,
Thành vàng điện ngọc trò Thầy đăng tiên.
Ai mà muốn đặng phước duyên,
Nghe lời khuyến thiện lòng liền phát tâm.
Tu cho rõ mối huyền thâm,
Quy đầu Phật Pháp khỏi lâm tai nàn.
Phước đức quí hơn bạc vàng,
Những người bạc ác giàu sanh ích gì.
Chi bằng ăn ở nhu mì,
Nghe lời Phật Thánh kính vì người trên.
Hiếu trung lòng chớ vội quên,
Sống lo trọn đạo , thác lên Tiên Đài.
Nam mô miệng niệm hằng ngày,
Lánh lời dua mị học rày kệ kinh.
Trau tâm luyện tánh cho minh,
Chuyên lo niệm Phật sửa mình cho trơn.
Lóng tai nghe rõ tiếng đờn,
Không dây không phím óan hờn cũng không.
Đờn tây rồi lại đờn đông,
Trách trong bá tánh gặp sông quên nguồn.
Phàm trần như chỉ rối cuồn,
Mà còn say đắm theo tuồng lẳng lơ.
Lời lành mắt lấp tai ngơ,
Đua theo vật chất hẫng hờ đàng tiên.
Hố sâu tình dục lại ghiền,
Ghiền cho đến lúc chúng khiêng quan tài.
Nhắm mắt cũng nắm hai tay,
Đâu đem tiền của đem rày hầu non.
Chỉ có tội phước hỡi còn,
Đến nơi thẩm phán cửa son Diêm Đài.
Phước nhiều tiên cảnh lên rày,
Tội nhiều sa đọa nhiều ngày thảm thê.
Chừng ấy mới biết chỉn ghê,
Ăn năn chẳng kịp khó bề tính toan.
Ngày nay sớm đến Phật đàng,
Tu cầu chư Phật cứu an linh hồn.
Tội tiêu phước hưởng trường tồn,
Không còn mắc nẻo dại khôn luân hồi.
Thấy đời khó nỗi yên ngồi,
Thêm lời Thầy nhắc một hồi thấp cao.
Nữ nam muốn rõ âm hao,
Rán trau đức hạnh ngày sau sẽ tường.


Ngôn từ đạo hạnh ý Thầy khuyên,
Hạnh đức ân cần rán tập chuyên.
Thất Tổ Cửu huyền nơi chín suối,
Mỉa mai xa lánh sáu đường duyên.

 

oOo


Vô thượng thậm thâm dĩ ý truyền,
Danh ngôn chép để rạch đàng Tiên.
Cư gia Tịnh Độ tâm viên mãn,
Sĩ xuất văn từ dốc dạy khuyên.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(tam niệm)
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
156  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / SẤM GIẢNG GIÁO LÝ / Quyển 5: Khuyến Thiện vào lúc: 03/15/09


Download MP3
Lổi bị hát không được đã sửa 4/17/2010


Quyển V: KHUYẾN THIỆN - Lời Khuyến Thiện Của Ông "Vô Danh Cư Sĩ"

Đây là quyển thứ năm mà Đức Thầy đã viết năm 1941 tại Chợ-Quán (756 câu)




  Nội-dung, Ðức Giáo-Chủ:

  Nhắc tiểu-sử Ðức Thích-Ca (Nguyên Nhân Phật Giáo)

  Luận giảng về:
                              tám sự khổ trong cõi Ta-bà
                              pháp môn tịnh độ
                              cách diệt ngũ-trược
                              trừ thập ác và hành thập thiện.



Băng tâm khẩu hứng thừa nhàn,
Theo đòi nghiên bút luận bàn tục, Tiên.
Ta là cư sĩ canh điền,
Lo nghề cày cuốc cũng chuyên tu hành.
Xa nơi tranh đấu lợi danh,
Giữ lòng thanh tịnh tánh lành trau tria.
Gắng công trì niệm sớm khuya,
Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê.
Chí toan gieo giống Bồ Đề,
Kiếm người lương thiện dắt về Tây Phang.
Dạy khuyên những kẻ ngỗ ngang,
Biết câu Lục tự gìn đàng Tứ ân.
Ở trần xử trọn nghĩa nhân,
Quyết làm tôi Phật gởi thân Liên Đài.
Cầu cho mối đạo hoằng khai,
Cầu cho trăm họ Bồng Lai được gần.
Sớm về cõi Phật an thân,
Kẻo kiếp phong trần dày gió dạn sương.
Phật đài phưởng phất mùi hương,
Cúi đầu đảnh lễ cậy nương đức mầu.
Từ Bi oai lực nhiệm sâu,
Độ con thoát chốn ưu sầu trần ai.
Nam mô Thích Ca Như Lai,
Ta Bà Giáo Chủ xin Ngài chứng minh.
Dưới đây lược tả sách kinh,
Cho trong nam nữ hữu tình thì coi.
Lời lành của Phật truyền roi,
Đọc qua suy nghiệm xét soi chánh tà.


THI

Tiếng kệ từ bi quá diệu trầm,
Diệt lòng tham vọng, diệt thinh âm.
Trần gian say đắm theo màu sắc,
Tịnh độ giác thuyền trị dục tâm.
Phải rõ nghiệp duyên trần cấu tạo,
Nghe rành chánh pháp thoát tà dâm.
Phù sanh nhược mộng đời lao khổ,
Tỉnh trí tu thân khỏi lạc lầm.

Hào quang chư Phật rọi mười phương,
Đạo pháp xem qua chớ gọi thường.
Chuyên chú nghĩ suy từng nét dấu,
Cố công gìn giữ tánh thuần lương.


KỆ

Lòng quảng ái xót thương nhân chúng,
Buổi lố lăng Phật Giáo suy đồi.
Kẻ tu hành ai nở yên ngồi,
Mà sớm kệ chiều kinh thong thả.
Mình đã gặp con thuyền Bát Nhã,
Có lý nào ích kỷ tu thân ?
Phật tổ xưa còn ở nơi trần,
Ngài gắng sức ra công hoằng hóa.
Nền Đại Đạo lưu thông khắp cả,
Bực tiên hiền đều trọng Phật gia.
Rèn dân bằng giáo thuyết bình hòa,
Giống bác ai gieo sâu vô tận.
Sau nhằm buổi phong trào tân tấn,
Đua chen theo vật chất văn minh.
Nên ít người khảo xét kệ kinh,
Được dắt chúng hữu tình thoát khổ.
Thêm còn bị lắm phen giông tố,
Lời tà tư ngoại đạo gieo vào.
Cho nhơn sanh trong dạ núng nao,
Chẳng gìn chặt gương xưa mạnh mẽ.
Dùng thế lực dùng nhiều mánh khóe,
Cám dỗ người đặng có khiến sai.
Chúng nằm không hưởng của hoạnh tài,
Để khốn khổ mặc ai trối kệ.
Mắt thấy rõ những điều tồi tệ,
Tai thường nghe lắm giọng ru người.
Thêm thời nầy thế kỷ hai mươi,
Cố xô xệp thần (thánh) quyền cho hết.
Người nhẹ dạ nghe qua mê mết,
Rằng: nên dùng sức mạnh cạnh tranh.
Được lợi quyền lại được vang danh,
Bài xích kẻ tu hành tác phước.
Làn sóng ấy nhiều người đón rước,
Dục dân tâm sôi nổi tràn trề.
Cổ tục nhà phỉ báng khinh chê,
Cho tôn giáo là mùi thuốc phiện.
Ai nếm vào ắt là phải nghiện,
Chẳng còn lo trang võ đấu chinh.
Lấy sắc thân dẹp nỗi bất bình,
Bỏ đức tính của câu nhơn quả.
Dầu ai có bền gan sắt đá,
Cũng động lòng trước cảnh ngửa nghiêng.
Đạo diệu mầu gặp lúc truân chuyên,
Phận môn đệ phải lo vun quén.
Tằm sức nhỏ còn làm nên kén,
Người không lo có thẹn hay chăng?
Cả tiếng kêu cùng khắp chư tăng,
Với tín nữ thiện nam Phật Giáo.
Nên cố gắng trau thân gìn Đạo,
Hiệp cùng nhau truyền bá kinh lành.
Làm cho đời hiểu rõ thinh danh,
Công đức Phật từ bi vô lượng.
Đồng dẹp bớt âm thinh sắc tướng,
Lo chấn hưng Phật Pháp mới là.
Nói cho đời hiểu Phật Thích Ca,
Lòng tự giác xả thân tầm Đạo.
Ta cũng chẳng hoàn toàn thông thạo,
Nhưng phân cùng bổn đạo xa gần.
Có một điều già trẻ ân cần,
Là phải biết nguyên nhân Phật Giáo.
Hồi thế kỷ khoảng trong thứ sáu,
Trước kỷ nguyên Tây lịch thời xưa.
Pháp Giáo chưa biệt lập tam thừa,
Thuở Trung Quốc nhà Châu Chiêu Đế.
Bên Ấn Độ thành Ca Tỳ La Vệ,
Có đức vua Tịnh Phạn nhơn từ.
Khắp thần dân lạc nghiệp an cư,
Trên chúa thẳng tôi ngay phò tá.
Đức Hoàng Hậu Ma Da phong nhã,
Sắc đẹp dường ngọc thốt hoa cười.
Một hôm kia vẻ mặt vui tươi,
Đến trước bệ tâu cùng thánh thượng.
Rằng: Thần thiếp nhờ ơn chung hưởng,
Của Hoàng gia cũng được vinh quang.
Kể từ nay thiếp muốn an nhàn,
Dưỡng tâm trí dần xa thế trược.
Chẳng phiền kẻ hầu sau đón trước,
Chỉ trừ người ý hiệp tâm đầu.
Xin một điều ở chốn long lâu,
Tập đức tánh khoan dung đại độ.
Tránh tất cả những điều thô lỗ,
Chẳng ưa gần những kẻ ngang tàng.
Thiếp cúi đầu ngưỡng vọng Thiên Nhan,
Phê cho thiếp những điều xin ấy.
Vua nghe xong vội vàng đứng dậy,
Bèn chuẩn y tỏ ý vừa lòng.
Bà tâu thêm ở trước đền rồng,
Xin thánh thượng bao dung kẻ khó.
Lòng yêu dân ví như con đỏ,
Tội giảm tha, đói giúp cơm tiền.
Cứu dân nghèo trong lúc đảo điên,
Lấy đức rộng bủa trong bá tánh.
Vua hứa chịu giúp người đói lạnh,
Bà lui về cung điện nghỉ ngơi.
Đêm trăng thanh gió mát thảnh thơi,
Tiết hòa thuận khắp nơi hoa nở.
Đức Hoàng Hậu trong lòng hớn hở,
Giấc chiêm bao bà thấy lạ lùng.
Bạch tượng từ ở chốn không trung,
Bỗng sa xuống mình bà hối hả.
Vừa tỉnh giấc mơ tiên mới lạ,
Khắp phòng huê thơm phức mùi hương.
Bà rảo chơn bèn bước ra vườn,
Truyền thị vệ thỉnh vua lai đáo.
Vua y lời đến nơi hoa thảo,
Lại gần Bà sao rất quái kỳ.
Tay chơn bèn run rẩy một khi,
Muốn quì xuống mắt dường tăm tối.
Tiếng Thần Tiên trên không ca trổi,
Rằng ta mừng vua hữu thiện căn.
Sắp có con thế giới chẳng bằng,
Sau người đó lập nên Đạo cả.
Vua nghe xong cuối đầu bái tạ,
Liền phán cùng hoàng hậu Ma Da.
Có việc chi vội vã dời ta,
Khá nói lại đầu đuôi tường tất.
Bà thuật lại chiêm bao trong giấc,
Xin vui vời ít kẻ bàn giùm.
Các thầy bàn được lịnh vào cung,
Nghe xong xả tâu rằng điềm quí.
Ngày thắm thoát đông qua hạ chí,
Bà trổ sanh thái tử đẹp tươi.
Mặt trang nghiệm khí phách hơn người,
Vua cùng khắp thần dân mừng rỡ.
Họ Thích Ca từ đây cũng ngỡ,
Sẽ có người nối nghiệp hoàng gia.
Liền đặt tên là Sĩ Đạt Ta,
Cả triều chính treo hoa yến ẩm.
Có nhà sư cách thành mấy dặm,
Thường ở ăn trong sạch hiền từ.
Lòng thẳng ngay chẳng có vị tư,
Đời thanh tịnh gìn theo đạo lý.
Ông lại được Thần Tiên dẫn chỉ,
Hiểu thiên cơ thấu mối diệu huyền.
Ông là người Bà- la- môn tiên,
A Tư Đà tiên hiền tên lão.
Thời buổi ấy vua ưa người Đạo,
Bèn vào chầu tâu trước bệ rồng.
Xin vua cho ông được vào trong,
Được yết kiến tử hoàng luôn thể.
Ông xem xong bỗng liền sa lệ,
Vẻ mặt buồn chẳng thốt ra lời.
Thấy lạ lùng vua bước đến nơi,
Liền phán hỏi bảo ông phân rõ.
Trước cung điện ông liền bày tỏ,
Rằng tử hoàng vừa được thành nhơn.
Lìa đền đài khổ cực chẳng sờn,
Tìm Đạo lý dắt dìu sanh chúng.
Ngài sẽ được thế gian ca tụng,
Chắc phần Ngài quả Phật vẹn tròn.
Buồn vì tôi tuổi lớn sức mòn,
Chẳng sống đặng nghe lời Phật thuyết.
Cả hồng trần đau thương thống thiết,
Nhờ Ngài mà diệt nẻo luân hồi.
Vô phước nên tủi bấy phận tôi,
Chớ chẳng có điều chi lo ngại.
Đức hòang hậu đến ngày thứ bảy,
Dứt nợ trần nên vội qui tiên.
Có bà dì thay thế mẹ hiền,
Giùm săn sóc trông nom thái tử.
Khi lớn lên cho người dạy chữ,
Lúc vào trường chẳng học mà thông.
Buổi trưởng thành vua vẫn hằng mong,
Cho Thái tử đừng lìa cung điện.
Hội triều đình các quan lựa tuyển,
Nàng Du Gia được chọn kết hôn.
Vua nghĩ rằng muốn tâm yên ổn,
Chọn cung phi mỹ nữ làm trò.
Cất đền đài lộng lẫy đẹp to,
Ngày ca múa đêm bày lơi lả.
Lòng thái tử cũng không xiêu ngả,
Ra khỏi đền du ngọan một khi.
Buổi đầu tiên gặp những chuyện gì,
Gặp cụ lão tay nương gậy chống.
Ngài xem qua lòng bèn cảm động,
Lần thứ hai thấy kẻ ốm đau.
Xét cõi trần lòng dạ héo xào,
Chi xiết nỗ núng nao cõi tạm.
Lần thứ ba xe lìa khỏi trạm,
Được trông nhìn kẻ chết đang khiêng.
Về đền đài cảm xúc buồn riêng,
Hằng để trí tầm phương giải thoát.
Lần thứ tư vừa đi dạo mát,
Bỗng gặp người tốt đẹp trang nghiêm.
Nào dè đâu Trời đã ứng điềm,
Giả tăng sĩ gọi lòng thái tử.
Ngài hiểu rõ ấy là phận sự,
Phải xuất gia tầm Đạo mau mau.
Liền quày xe trở lại lai trào,
Xin Vương phụ lánh xa mùi thế.
Vua buồn thảm dùng lời khóc kể,
Rằng: Cha già biết cậy nhờ ai.
Khuyên con nên ở chốn điện đài,
Lo nối nghiệp sau tu chẳng muộn.
Lòng thái tử quyết theo ý muốn,
Thừa đêm khuya lén trốn vào rừng.
Lìa cha già, vợ đẹp, con cưng,
Thân chẳng sá xông pha bờ bụi.
Ngài thuở ấy lên mười chín tuổi,
Tâm đại hùng cương quyết tu trì.
Trải bao phen lao khổ xiết chi,
Sau Ngài đến Rạch Ni Liên Thuyền.
Thấy cỏ hoa cảnh bắt tham thiền,
Ngồi khổ hạnh sáu năm bên ấy.
Đạo gần đắc Ma vương theo khuấy,
Dùng thần thông nghị lực dẹp tan.
Ấy mới vừa đắc Đạo hoàn toàn,
Và lần bước phô trương độ chúng.
Ngài bèn xét ở trong Phật chủng,
Các chúng sanh đều có như ta.
Bị vô minh vọng tưởng vạy tà,
Nên quây lộn ta bà cõi khổ.
Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh độ,
Đặng dắt dìu tất cả chúng sanh.
Nếu như ai cố chí làm lành,
Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật Quốc.
Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật,
Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc Sanh.
Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng hành
Được cứu cánh về nơi an dưỡng.
Chỉ một kiếp Tây Phương hồi hướng,
Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi.
Xét cõi trần sống khổ giạt trôi,
Vô lượng thứ ở trong thế giới.
Lời Phật thuyết ta xin nhắc lại,
Ta bà khổ, ta bà lắm khổ.
Có bao người xét cho tột chỗ,
Tịnh độ vui, Tịnh độ nhàn vui,
Cảnh thanh minh sen báu nặc mùi,
Nào ai rõ cái vui triệt đáo.
Vì phần Ta rất yêu mến Đạo,
Chẳng nệ chi trí siển tài sơ.
Lấy lời xưa kết lại ít tờ,
Cho thiện tín rỗi nhàn xem xét.
Dứt tâm mê dứt điều hờn ghét,
Rán cần chuyên niệm Phật làm lành.
Thường trau giồi chí hướng cao thanh,
Cho khỏi thẹn con lành Phật Giáo.
Đức Thích Ca từ xưa dạy bảo:
Khổ ta bà nhiếp lại tám phần.
Bởi chúng sanh mang lấy xác thân,
Khổ thứ nhứt sự Sanh là gốc.
Vào bụng mẹ chung quanh bao bọc,
Có khác nào ở chốn ngục tù.
Buổi mẹ đau huyết kiệt hình thu.
Lúc mẹ đói dường treo lỏng bỏng.
Ta kể sơ những điều bi thống,
Mẹ no cơm chật chội khó khăn.
Khi ra đời đau đớn vô ngần,
Cất tiếng khóc nếm mùi dương thế.
Đọan Lão Khổ thứ nhì nên kể,
Từ trẻ thơ đến tuổi thành nhân.
Hết tráng cường đến lúc mòn thân,
Răng lần rụng lưng cong gối mỏi.
Nằm đi đứng đỡ nưng chống chỏi,
Thử nghỉ coi lao nhọc cùng chăng?
Đọan thứ ba ma Bịnh làm nhăng,
Đem hình phạt xác thân ô uế.
Bởi thời thế chuyển xoay biến thể,
Thêm uống ăn chẳng được điều hòa.
Là nguyên nhân căn bịnh phát ra,
Thân trằn trọc hôn mê nhức nhối.
Cơn bịnh họan càng không tránh nỗi,
Còn mang thêm tật nọ tật kia.
Rồi từ đây đến lúc chia lìa,
Đọan Tử khổ thứ tư phân giải.
Trên dương thế hữu tình tắc hoại,
Có sanh ra khổ hải đâu chừa.
Trải bao phen dãi gió dầm mưa,
Ngày kiệt sức huyễn thân tan nát.
Gần hấp hối tâm thần xao xác,
Trí vẩn vơ kinh sợ vô cùng.
Rồi mòn lần đến lúc lâm chung,
Giả cõi tạm theo đường tội phước.
Nhiều phương thuốc ngừa sau ngăn trước,
Mà cũng không thoát luận tuần huờn.
Dầu ẩn nơi cùng cốc thâm sơn,
Chẳng trốn lánh tử thần cho khỏi.
Đọan thứ năm nghĩ suy tìm tỏi,
Cầu chẳng thành những việc thích ham.
Người trên đời ai cũng lòng tham,
Muốn phước, thọ,phẩm, hàm, tiền của.
Nào vợ đẹp, hầu xinh là lụa,
Không được thì bực tức ưu phiền.
Cả tâm thần điêu đứng đảo điên,
Vậy có phải khổ hay là chẳng?
Đọan thứ sáu Biệt Ly cai đắng,
Người mình thương bỗng lại chia lìa.
Khi khóc than nước mắt đầm đìa,
Lúc trông nhớ ruột tầm chua xót.
Ở thế gian mấy ai thoát lọt,
Nợ gia đình đeo đắm căn duyên.
Cơn nguy nghèo thân thể truân chuyên,
Kẻ lưu lạc người chờ trông mãi.
Cuộc tan hiệp, hiệp tan ân ái,
Đến xong đời để lại sầu ưu.
Cái khổ nầy dầu lắm trí mưu,
Cũng chung chịu như người tâm tối.
Đọan thứ bảy khổ Oan Tắng Hội,
Hễ thương nhau tất có ghét nhau.
Thường tranh đua tiếng thấp lời cao,
Chẳng nhẩn nhịn thành ra cừu oán.
Muốn tránh xa đừng trông tâm dạng,
Cứ gặp nhau mắt tưạ kim châm.
Làm cho người đau đớn âm thầm,
Khổ như thế diễn ra mãi mãi.
Đọan thứ tám ưu sầu lo ngại,
Cuộc tan thương dâu bể cảnh trần.
Nghèo thì lo một nỗi nợ nần,
Lo đau đói liệu cơn nhà rách.
Buồn duyên số phận mình nhơ sạch,
Rầu gia đình chúng bạn khinh cười.
Giàu thì lo chen lấn với người,
Miễn cho được đầy rương đầy tủ.
Của dương hế góp tom bảo thủ,
Sợ gian phi trộm cướp rình mò.
Lo tước quyền cho được thơm tho,
Sợ kẻ khó thiếu tiền chẳng trả.
Ôi! cả sang hèn chẳng ai thông thả,
Sau nhơn sanh cứ mãi đắm say.
Chẳng tu thân đặng dựa Phật Đài,
Cho thong thả hưởng mùi sen báu.
Thần thức nhập Thai sen tinh hảo,
Nên khỏi màng lo nỗi khổ sanh.
Thân thì thân công đức hiền lành,
Bất di dịch khỏi vì khổ lão.
Thể thanh tịnh thường không huyên náo,
Hết lo toan nắng lạnh gió mưa.
Khổ bịnh kia bởi đó mà chừa,
Ta thóat cuộc lao đao vì nó.
Đường sanh mạng Phật, ta đồng thọ,
Tánh an nhiên bất diệt trường tồn.
Tử thần kia đâu dám dắt hồn,
Thoát luân chuyển khỏi đeo khổ tử.
Cuộc y thực muốn chi đủ thứ,
Không nhọc nhằn lo việc sanh nhai.
Trí yên nhàn nhìn cảnh Phật Đài,
Khỏi quả khổ mưu cầu bất đắc.
Cả hải chúng thảy đều vững chắc,
Toàn dân lành đâu có đắn đo.
Dứt ái ân quyến thuộc chuyện trò,
Thoát sống khổ thương yêu, ly biệt.
Chữ hòa thuận kể sao cho siết,
Tâm đồng nhau thượng thiện vui vầy.
Cảnh như như chẳng có đổi thay,
Không màng biết phân chia nhơn ngã.
Sẵn vị ngôi rành phân thượng hạ,
Khỏi khổ câu oán ghét gặp nhau.
Thân tâm thường trụ hết rạt rào,
Chất thô trược tiêu tan mất cả.
Cõi Tịnh độ lắm điều thanh nhã,
Khổ, buồn, rầu, lo, sợ chẳng còn.
Chốn Ta bà tim lụn dầu mòn,
Thân tứ đại của người cũng thế.
Mau thức tỉnh tu thân kẻo trể,
Đến tội rồi mới hối muộn màng.
Chi cho bằng ta sớm lo toan,
Gìn giới luật nghe kinh trọng Phật.
Đến lâm chung quả lành đâu mất,
Cõi Tây Phương chư Phật đợi chờ.
Việc tu thân thiện chí hẫng hờ,
Chừng họa đến e cho khó tránh.
Môn Tịnh độ là phương cứu cánh,
Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa.
Lòng từ bi chẳng quản nắng mưa,
Xông thuyền giác rước đưa sanh chúng.
Trong một nước nhân tài hữu dụng,
Kẻ tu hành đa phước thì nên.
Quyết trau thân tánh hạnh cho bền,
Niềm ơn nghĩa toan đền dứt nợ.
Ao sen báu Tây phương đua nở,
Chờ chúng sanh niệm Phật chí tâm.
Rán tu cho quỉ khiếp thần khâm,
Được tâm phát Bồ Đề vững chắc.
Giữ đừng cho Ma Vương dẫn dắt,
Thường nhớ câu Đại Lực Đại Hùng.
Thắng Thất Tình giữ vẹn Đạo Trung,
Trừ Lục Dục chớ cho ô nhiễm.
Thập Tam Ma diệt bằng trí kiếm,
Rứt xong rồi vô sự thảnh thơi.
Biển hồng trần lao lý diệu vơi,
Xô đẩy mãi trong vòng Ngũ Trược.
Thân hôi tanh muỗi ruồi đón rước,
Thêm nhọt u, ghẻ lác,phong cùi.
Đâu lúc nào tòan vẹn yên vui,
Là Kiếp Trược Ta xin kể trước.
Dòm việc quấy ngắm điều bạo ngược,
Mắt trông vào những chỗ đê hèn.
Nào được xem cảnh báu đài sen,
Nghĩa Kiến Trược giải ra như vậy.
Trí vẩn vơ tưởng đó nhớ đây,
Thiết mưu kế toan bề thắng thối.
Ghi thù óan chưởng điều đáp đối,
Nên ma Phiền Não Trược đắm say.
Chuyển luân trong nhân vật các loài,
Căn mờ ám làm điều dại dột.
Chúng Sanh Trược, Ta đà kể nốt,
Còn thứ năm là Mạng Trược Trung.
Số giàu sang, họa phước, bần cùng,
Giàu hoa nguyệt thung dung cẩu thả.
Ưa đẹp mắt mến điều mới lạ,
Sang oai quyền, hối lộ gần xa.
Nghèo a dua, bợ đỡ nịnh tà,
Khó trộm cướp cũng là nhơ xấu.
Nguyện cùng Phật dứt duyên trần cấu,
Phải trừ thêm Thập Ác huyễn thân.
Khuyên nữ nam suy nghiệm ân cần,
Ác nơi khẩu nhứt là Lưỡng Thiệt.
Với người nầy dùng lời tha thiết,
Đến kẻ kia đâm thọc cho gây.
Khá chừa đi hương đảng bớt rầy,
Dùng sự thiệt giải bày tâm trí.
Người chỏang nhau tại mình gia vị,
Mà cũng không hưởng được lợi danh.
Sau rõ ra chúng lại ghét ganh,
Chiêu cảm quả bất lành thêm nữa.
Ác thứ nhì Ỷ Ngôn chất chứa,
Đợi cho người lầm lỗi xéo vày.
Của tiền nhiều tự phụ rằng hay,
Chủ ỷ thế nhiếc xài kẻ dưới.
Lắt léo chi có ba tấc lưỡi,
Quan ỷ khôn mạt sát dân ngu.
Nghèo ỷ lanh láo xược lu bù,
Ôi! thấy thế lòng đau tợ cắt.
Khuyên bá tánh giữ gìn cho chặt,
Đừng để cho quỉ dắt đường cong.
Dùng từ ngôn nói tận đáy lòng,
Dầu trên dưới cũng không mấy khác.
Chúng vô phước đời nầy dốt nát,
Người khôn ngoan chỉ dẫn mới là.
Lời trang nghiêm êm ái thốt ra,
Đừng bao biếm mới là nhơn thiện.
Tới Ác Khẩu thứ ba bày biện,
Tiếng tục tằng thô lỗ hung hăng.
Nào chưởi cha mắng mẹ lăng xăng,
Chẳng kể đến luân thường thảo hiếu.
Hăm đánh giết những người hèn yếu,
Hiếp xóm chòm cô bác chẳng kiêng.
Trong gia đình chưởi rủa liên miên,
Hết dương thế kê sang Thần Thánh.
Chẳng kiêng nể Phật Trời thượng cảnh,
Cõi Long cung mời thỉnh tối ngày.
Đời ám u tội trạng thảm thay,
Khuyên bá tánh bá gia rán bỏ.
Gương tổ phụ còn roi lại đó,
Sau không theo nề nếp gia phong.
Chư Thánh Thần đâu có mất lòng,
Mà kêu réo Đông, Tây, Nam, Bắc?
Mấy câu trên toàn là ròng rặc,
Những đàn bà khe khắt cháu con.
157  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / LỊCH SỬ / Lịch Sử Và Sự Phát Triển Của Phật Giáo Hòa Hảo vào lúc: 03/08/09
LỊCH SỬ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO

I.- VỊ-TRÍ ĐỊA-DƯ

Nền Đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo được khai sáng tại làng Hòa-Hảo, quận Tân-Châu, Tỉnh Châu-Đốc, Nước Việt-Nam, vào thời đó phát-triển mạnh ở Miền Tây Nam-Việt, nhứt là tại các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau và Thành phố Sài Gòn.

Đặc biệt đây là những tỉnh đồng-bằng thuộc châu-thổ sông Cửu-Long, giáp giới nước Cao-Miên được mệnh danh là vựa lúa của Việt-Nam. Nhờ sự phì-nhiêu của đất đai, vùng này có khả năng vĩ-đại về nông nghiệp, và có một vai trò căn-bản trong nền kinh-tế nông-nghiệp hiện nay của nước Việt-Nam.

Riêng vùng này, gọi chung là Miền Tây hay Đồng Bằng Sông Cửu Long, ngày nay gồm 12 tỉnh là : Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau với tổng diện tích canh tác lúa là 4,009,000 mẫu tây ; cây hoa màu : 4,500,000 mẫu tây. Tổng sản lượng hằng năm gần 16,000,000 tấn lúa (Thống Kê năm 1999) chưa kể những sản-phẩm hoa-mầu phụ, và ngư-nghiệp, chăn nuôi... Đại-đa-số gạo xuất cảng của Việt-Nam sang các nước cần mua mễ cốc, đã xuất phát tại vùng này.

II.- NGUỒN GỐC

Ngoài sự kiện kinh-tế trên đây, vùng này còn có một số dãy núi mà nhiều văn-kiện lịch-sử xưa nay đã lưu-truyền rằng tại đó chứa đựng nhiều điều huyền bí ly-kỳ, nhứt là bảy dãy núi Thất-Sơn tại biên giới tỉnh Châu-Đốc giáp xứ Cao-Miên.

Những điều huyền-bí đó lưu-truyền trong sách vở đến nay chưa ai cắt nghĩa được ngoài sự kiện cụ-thể là chính tại vùng Thất-sơn này đã phát-xuất, từ năm 1849 một vị Phật Sống tức Đức Phật-Thầy Tây-An, sáng lập tông-phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương, và sau này vào năm 1939, cũng một vị Phật Sống khác là Đức Thầy Huỳnh-Phú-Sổ, tiếp nối truyền-thống Bửu-Sơn Kỳ-Hương mà khai sang mối đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo, cũng tại một địa-điểm gần dẫy Thất-Sơn.

Tuy là Phật-Giáo Hòa-Hảo mới ra đời từ 1939 đến nay, nhưng đã có nguồn gốc tông-phái từ 1849, tức là trên một trăm năm nay.

Đức Phật Thầy Tây-An đã nổi danh khắp Miền Nam Việt-Nam, là một vị Phật Sống và một nhà ái-quốc, cũng như sau này Đức Huỳnh Giáo-Chủ Phật-Giáo Hòa-Hảo cũng được người Việt-Nam tôn sùng là một vị Phật Sống xuống thế cứu đời, đồng thời cũng là một nhà Cách-mạng quốc-gia chơn-chánh. (xin xem Tiểu-Sử và Giáo-Lý của Đức Huỳnh-giáo-chủ.)

III.- SỐ TÍN-ĐỒ PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO

Tổng-số tín đồ P.G.H.H. được ước lượng vào khoảng trên 5 triệu người trong toàn quốc, đại diện là tỉ-số 38% trên tổng dân-số 16,133,434 người của Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Có những tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bạc Liêu tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo lên đến 90% dân-số; ở các tỉnh khác, tỷ-số này thay đổi từ 10 đến 60%.

Nếu các tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo tham-gia các cuộc bầu-cử ứng-cử trong nhiệm-vụ đại-biểu nhân-dân, thì họ sẽ chiếm được đại đa số ghế. Tỷ-dụ trong cuộc bầu cử Hội-đồng hàng Tỉnh 1965, tại các tỉnh An-giang, Châu-Đốc, tất cả các đại-biểu nhân-dân đều là tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo; và tại các tỉnh Kiến-phong, Vĩnh-long, Phong-dinh, tín-đồ P.G.H.H. đã chiếm 80% số ghế. Tỷ-số này cũng đã được thể hiện trong cuộc bầu cử Quốc-Hội Lập-Hiến Việt-Nam Cộng-Hòa ngày 11-9-65, và liên danh đắc-cử nhiều phiếu nhứt trong toàn-quốc là liên danh của tín-đồ P.G.H.H. tỉnh An-giang.

IV.- ĐẶC-TÍNH PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO

Hiện nay Phật-Giáo Hòa-Hảo là một trong số 4 tôn-giáo quan trọng nhứt ở Việt-Nam. Với khối quần-chúng trên 5 triệu người P.G.H.H. không những có tánh-chất của một khối quần-chúng tâm-lý sắt-son tin-tường nơi giáo-lý cao-siêu của Đức Huỳnh-giáo-chủ, mà còn thêm có tổ-chức thành hàng-ngũ, hệ-thống chặt-chẽ để chịu đựng mọi thử thách cam-go mà tự tồn và phát-triển.

ĐẶC TÍNH THỨ NHẤT : nằm trong truyền-thống Bửu-Sơn Kỳ-Hương đến Phật-Giáo Hòa-Hảo là một nền đạo Phật gần gũi với ĐẠO LÝ DÂN TỘC (NHÂN-HIẾU-TRUNG-NGHĨA)

Trên phương-diện Nhân-sinh và Xã-hội, người ta cũng nhận định rằng bản chất thuần phác của ngưởi nông-dân cho họ có căn-bản thuận-lợi để tu-học theo đạo Phật và thấm nhuần đạo lý làm người sống trong quan hệ với gia đình, xã hội, đất nước để rèn luyện trở thành những hạt giống tốt gieo trồng cho một tương lai toàn thiện, toàn mỹ sau này. Tuy gốc Đạo bám rễ trên tầng lớp nông dân nhưng từ đó các lớp tín hữu sau nhờ tiếp thu nền học vấn tiên tiến đã và đang vươn lên đến đỉnh trí tuệ để đóng góp cho đời bàn tay, khối óc của họ.

ĐẶC TÍNH THỨ HAI : Phật-Giáo Hòa-Hảo cũng như Bửu-Sơn Kỳ-Hương đều chủ-trương tu-hành tại-gia. Bởi vì các vị Giáo-chủ nay đã nghĩ rằng đạo Phật không những chỉ truyền-bá ỏ thiên-non mà còn phải phát-triển rộng-rãi đến mọi gia-đình.

Do đó các tín đồ P.G.H.H. không bắt buộc cạo đầu vào chùa, lìa bỏ mọi việc ngoài thế-gian, mà họ vẫn ở tại gia-đình, sống như mọi người công-dân khác, với nếp sống bình-dị trong nông-nghiệp, đồng thời tu hành theo giáo-lý Đức Thích-Ca.

Tôn-chỉ tu-hành của Phật-Giáo Hòa-Hảo là HỌC PHẬT TU NHÂN, tức là noi theo giáo-lý chơn-truyền của Đức Phật mà tu sửa con người, để vừa làm tròn bổn-phận trong cõi đời đang sống, vừa dọn thân-tâm cho trong sáng đề được siêu-thăng vào cõi Tịnh-độ Cực-lạc, giải-thoát khỏi vòng luân-hồi.

Để thi hành tôn-chỉ Học Phật Tu Nhân, người các tín đồ P.G.H.H. phải tích cực thực hiện Tứ-Ân, tức bốn điều ân lớn là:

    * Ân Tổ-Tiên Cha-mẹ
    * Ân Đất-Nước
    * Ân Tam-Bảo (Phật, Pháp, Tăng)
    * Ân đồng-bào nhơn-loại

(Xin xem Sấm Giảng quyển 6 do Đức Huỳnh Giáo-Chủ viết)

Cũng trong đường lối đó, người tín đồ P.G.H.H. đã tỏ ra tích cực tu-hành đồng thời cũng tích-cực hy-sinh vì đất nước, khi quốc-gia hữu-sự.

ĐẶC TÍNH THỨ BA : là sự canh-tân phương pháp hành-đạo nhằm loại trừ mọi hình thức rườm-rà mê-tín dị-đoan. Đặc tính canh-tân này có mục đích loại bỏ âm-thinh sắc-tướng để phát-dương phần tinh-túy của Đạo Phật, đúng theo chánh-pháp vô-vi của Đức Phật.

Đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo chủ-trương canh-tân như sau:

Không cất chùa đúc tượng thêm, ngoài những ngôi chùa đã sẳn có. Ai giầu lòng từ-thiện thì nên phát tâm bố-thí, cứu-trợ kẻ nghèo-khổ, thì hơn là cất chùa lớn đúc tượng cao.

Không chấp nhận thầy cúng, thầy lễ, thấy bói, thầy phù-thủy, cũng không dâng cúng chè-xôi thực-phẩm cho Phật, vì Phật không dùng những của hối-lộ đó.

Không dùng cờ phướn, lầu kho, đốt giấy tiền vàng bạc, phí-tổn vô-ích . . .

Không khóc lóc hay làm linh đình lúc tang ma, mà chỉ im lặng cầu nguyện cho linh hồn kẻ chết được siêu thoát.

Không ép hôn, thách thức tiền cưới hay tiệc rượu linh-đình, vì sẽ mang nợ, gay hại về sau.

Tóm lại, giáo-pháp Vô-Vi Phật-Giáo Hòa-Hảo nhằm canh-tân phương-pháp hành-đạo để trở về với Giáo-lý chơn-truyền của-Đức Phật, là tu hành TÂM, chẳng phải ở hình-thức nghi-lễ bề ngoài.

V.- SỰ THỜ-PHƯỢNG CỦA PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO

Trong chủ trương canh-tân nói trên, sự thờ-phượng trong nhà các tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo thật là giản-dị.

Trên bàn thờ, không có tượng Phật, không có chuông mõ. Chỉ có một tấm Trần bằng vải mầu dà, tượng trưng cho sự hòa-hợp nhơn-loại, và cho màu-sắc nhà thiền. Đó là bàn thờ Chủ Phật. Dưới bàn thờ Phật là bàn thờ Cửu-huyền Thất-Tổ, ông bà cha mẹ đã khuất. Trước nhà có một bàn thờ lộ-thiên (gọi la Bàn Thông-Thiên) để người tín-đồ cảm thông với Trời-Đất, bốn phương Trời, mười phương Phật.

Không dùng bất cứ thực phẩm nào kể cả trái cây, để cúng Phật, mà chỉ dùng nước lạnh, bông hoa, và nhang. Nước lạnh tượng trưng sự trong sạch, bông hoa tượng-trưng sự tinh-khiết và nhang làm át mùi uế-trược.

Mỗi ngày người tín-đồ P.G.H.H. làm lễ cúng Phật, ít nhứt hai lần, buổi sáng và buổi tối. Trong các ngày rằm, mồng một, ngày vía Chú Phật, họ đến chùa hay hội-quán hành lễ, và nghe kinh-giảng hay nghe thuyết-pháp.

Lúc hành lễ họ không dùng mõ chuông, mà chỉ lâm râm tâm-niệm. Khi nào mắc công việc thì đến giờ hành lễ họ quay mặt về hướng Tây mà cúng Phật, và khuyến khích nhau ngồi đâu, ở đâu cũng tụng niệm trong tâm.

Ngoài ra trong các Xã, Ấp có những độc-giảng-đường trang-bị máy phóng-thanh, đễ mỗi ngày trong những giờ nhứt định. có những giảng-viên đến đọc kinh giảng hay thuyết-pháp cho người chung quanh cũng nghe.

Độc Giảng Đường Phật-Giáo Hòa-Hảo là những ngôi chùa thâu-hẹp chỉ để truyền đạo, chứ không phải để cư-trú, nên nhỏ hơn chùa, bởi bản-chất Phật-Giáo Hòa-Hảo là cư-sĩ tại-gia.

Trước năm 1975, chỗ nào có nhiều tín đồ P.G.H.H. đều có độc-giảng-đường, với nét kiến-trúc đặc-biệt của Phật-Giáo Hòa-Hảo. Theo kiểm-kê 1965 có 390 Độc Giảng Đường P.G.H.H.

VI.- CỜ ĐẠO, HUY-HIỆU

Cờ đạo hình chữ nhựt màu dà, không có chữ hay hình tượng nào. Huy-hiệu P.G.H.H. hình tròn màu dà, bìa vàng trên có bông sen trắng, và bốn chữ tắt P.G.H.H.

VII.- THÁNH-ĐỊA

Thánh-địa Phật-Giáo Hòa-Hảo đặt tại làng Hòa-Hảo và Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hảo là sanh-quán của Đức Huỳnh Giáo-chủ, và cũng là nơi khai sáng mối Đạo. Tại đây không có sự xây cất đồ-sộ, nhưng có một nếp sống đặc-biệt an-lạc, với không khí đạo-giáo.

VIII.- HỆ THỐNG TỔ-CHỨC

Đoàn thể Phật-Giáo Hòa-Hảo được quản-trị bỡi một hệ thống Ban-Trị-Sự. Các Ban-trị-sự được thiết lập từ mỗi Ấp, Xã, Quận, Tỉnh. Trên hết là một Hội-Đồng Trị-Sự Trung-ương. Mỗi Ấp chia làm nhiều chi-hội.

Nhờ một tổ chức chặt-chẽ và đi sâu vào tới hạ-tầng cơ-cở quần-chúng, nên sự điều-hành công-việc được chặt-chẽ, và các chỉ-thị được thi hành suốt từ Trung-Ương xuống đến chi-hội.

Nguyên tắc tổ-chức và điều-khiển là Dân-chủ tập trung, tức là:

BẦU CỬ - Các tín-đồ bầu-cử lựa chọn Đại-diện của mình vào các Ban-trị-sự Ấp. Sau đó các Ấp bầu Ban-Trị-Sự Xã, và các Ấp, Xã bầu Ban-trị-sự Quận, Tỉnh. Rồi tất cả Ấp, Xã, Quận, Tỉnh, bầu lên Hội-đồng Trị-sự Trung-ương

LÃNH-ĐẠO - Tổ đình Giáo Hội Phật Giáo Hòa-Hảo lo việc phụng tự và nghi lễ tại Thánh Địa Hòa-Hảo.

Nguyên tắc dân-chủ tập-trung làm cho các Trị-sự-viên được bầu có tính-chất đại-diện bởi đã được lựa chọn theo tiêu-chuẩn đạo-đức, nên đương-nhiên có uy-tín để điều-hành mọi việc. Do đó, giáo-quyền được tôn-trọng theo nguyên tắc hạ-cấp phục-tòng thượng-cấp.

Bên cạnh Hội-đồng Trị-sự Trung-ương có một Hội đồng Bảo-Pháp đặc-trách vấn-đề thi-hành kỹ-luật theo giới-điều của Đạo.

Trên hết có vị lãnh-đạo tinh-thần tối-cao là Đức Giáo-Chủ Huỳnh-Phú-Sổ, đại khai-sáng mối Đạo.

IX.- SINH-HOẠT

Phật-Giáo Hòa-Hảo được khai-sáng từ năm 1939. Lúc đó là thời-kỳ Việt-Nam lệ-thuộc nước Pháp, nên người Pháp nhiều lần đàn áp và ngăn chận sự truyền-đạo của Đức Huỳnh-giáo-chủ.

Đến khi quân đội Nhựt tiến chiếm Đông-Dương, nhà cầm quyền Nhựt tỏ ý muốn giúp đỡ các đòan thể quốc gia và tôn giáo để đòi lại chủ quyền trong tay người Pháp. Do đó, vào năm 1942, Đức Huỳnh-giáo-chủ được quân đội Nhựt giải-thoát khỏi tình-trạng biệt giam tại Bạc Liêu, và đưa Ngài về Saigon. Đức Huỳnh Giáo-chủ tuy cám ơn người Nhựt đã giải-thoát mình, nhưng vẫn một mực đòi hỏi chánh-phủ Nhựt hãy thật-sự giao trả chủ-quyền Việt-Nam cho dân-tộc Việt-Nam.

Năm 1945, đoàn-thể P.G.H.H. tổ chức kháng-chiến chống Pháp, và sau đó chống chế-độ độc-tài khủng bố do Cộng Sản Việt-minh chủ-trương.

Sau khi Đức Huỳnh Giáo Chủ bị mất tích từ 1947, Phật Giáo Hòa-Hảo được sự dẫn dắt của Đức ông Huỳnh Công Bộ, là thân sinh của Đức Huỳnh Giáo Chủ tiếp tục phát huy đạo pháp tại Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo - Thánh Địa xã Hòa-Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay trực thuộc tỉnh An Giang), là người chỉ đạo vừa quân sự lẫn giáo quyền trực thuộc Phật Giáo Hòa-Hảo.

Về quân sự chia làm 4 khu vực chính :

    * Tướng Trần Văn Soái (tự Năm Lửa) : Cái Vồn, Cần Thơ, và Vĩnh Long.
    * Tướng Nguyễn Giác Ngộ (ông Nguyễn) : Chợ Mới - An Giang.
    * Tướng Lê Quang Vinh : An Giang và Cần Thơ.
    * Tướng Lâm Thành Nguyên : Châu Đốc và Hà Tiên.

Về nhân sĩ dân sự : đặt dưới sự điều động của Đức Ông Huỳnh Công Bộ gồm các nhân sĩ tiêu biểu :

    * Lương Trọng Tường
    * Trần Văn Nhựt (tự Dật Sĩ)
    * Nguyễn Ngọc Tố
    * Nguyễn Văn Hầu
    * Luật sư Mai Văn Dậu v.v..


Sau khi hiệp-định Giơ-Neo ký kết, Ông Ngô-đình-Diệm chấp-chánh quyền hành tại Việt-Nam, và dưới chế-độ gia-đình-trị này, Phật-Giáo Hòa-Hảo cũng lại bị đàn-áp, không được tự-do sinh-hoạt.

Chỉ sau khi chế-độ này bị lật đổ ngày 1-11-63, Giáo-hội Phật-Giáo Hòa-Hảo mới có thời-cơ để tổ-chức lại hàng-ngũ tín-đồ và hệ-thống các Ban Trị Sự từ năm 1964 đến năm 1975.

Đức Ông Huỳnh Công Bộ lãnh đạo Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo từ năm 1947 đến năm 1961. Sau khi Đức Ông qua đời, Đức Bà Lê Thị Nhậm thay thế đảm nhận cương vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Hòa-Hảo (Hội Trưởng Danh Dự Tối Cao) . Đến 1967 Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo phải chịu đựng rất nhiều khó khăn mất mát. Nhân viên cán sự quan trọng của Tổ Đình bị bắt cóc và thủ tiêu, điển hình là ông Huỳnh Hữu Thiện (tự Ký Dữ), Trần Văn Tập v.v.. trong số 5 yếu nhân của Tổ Đình bị mật vụ chánh quyền Ngô Đình Diệm thủ tiêu. Dù vậy Tổ Đình Giáo Hội Phật Giáo Hòa-Hảo đã vượt hết mọi khó khăn bảo vệ được đoàn thể.

Khi biến cố lịch sử 1975 của đất nước xảy ra, các ban trị sự bị chính quyền giải tán và ngưng hoạt động. Tình trạng của giáo hội Phật Giáo Hòa-Hảo trở lại như thập niên 1950 ; trong nước duy nhứt chỉ còn tồn tại Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo do Cô Năm Huỳnh Thị Kim Biên (mất 1978 tại VN) là bào muội của Đức Huỳnh Giáo Chủ cùng gia đình thân tộc can đảm chịu đựng giai đoạn đen tối và khó khăn nhứt của Giáo sử.

Tổ Đình Giáo Hội PGHH đã bị cô lập và áp lực từ chính quyền trên mọi phương diện . Lấy hai chữ HÒA HẢO làm đầu, lãnh đạo Tổ Đình cương quyết giữ vững lập trường phi bạo lực, phi chính trị ; tránh tất cả nguyên nhân để Nhà nước vinh vào đó mà đàn áp gây thương vong cho tín đồ PGHH . Cho dù PGHH có được chính phủ do ai cầm đầu có hay không công nhận, cho hay không cho cho phép hoạt động, PGHH cùng Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hảo vẫn tồn tại và đó là một thực thể bất biến và vĩnh hằng.

Trong phương thức HỌC PHẬT TU NHÂN, trên 5 triệu người tín-đồ P.G.H.H cư-sĩ tại-gia đồng thời với tu-sửa thân-tâm, lại còn đóng góp vào việc phát-triển nền kinh-tế nông-nghiệp của Việt-Nam. Hơn thế, khi quốc gia hữu-sự, tín-đồ P.G.H.H sẵn sàng hiến-dâng đời-sống hy sinh để bảo vệ Tổ-quốc và Đạo-nghĩa.

Mỗi năm đặc biệt trong ngày lễ Kỷ-niệm khai-sáng mối Đạo vào 18 tháng 5 âm lịch, các sự-kiện trên đây được thề-hiện trong tổ-chức đại-lễ nơi Thánh-địa Hòa-Hảo, và ở khắp vùng Hậu-giang.

X.- TRONG CỘNG-ĐỒNG PHẬT-GIÁO THẾ-GIỚI

Hiện nay Phật Giáo Hòa-Hảo là một trong số 4 tôn giáo quan trọng nhứt ở Việt Nam. Với khối quần chúng trên 5 triệu người, Phật Giáo Hòa-Hảo không những có tánh chất của một khối quần chúng tâm lý sắt son tin tưởng nơi giáo lý cao siêu của Đức Huỳnh Giáo-Chủ, mà còn thêm có tổ chức thành hàng ngũ, hệ thống chặt chẽ, để chịu đựng mọi thử thách cam go mà tự tồn và phát triển.

Trên bình-diện quốc-gia, Giáo-hội Phật-Giáo Hòa-Hảo là một hội-viên sáng-lập cùa Hội-Đồng Tôn-Giáo Việt-Nam, một cơ-quan đoàn-kết các tôn-giáo chánh-yếu như Thiên-Chúa-Giáo, Phật-Giáo, Phật-Giáo Hòa-Hảo, Cao-Đài-Giáo... Đồng thời đoàn thể P.G.H.H cũng tham gia các sanh hoạt quốc gia, đúng theo truyền-thống của một tôn-giáo dân-tộc. Ngoài ra, giáo-lý P.G.H.H. cũng đã được tiếp-nhận với nhiều cảm-tình bởi nhiều giới trí-thức Đông-Phương cũng như Tây-Phương.

Bởi vì, với một giáo-thuyết hòa-đồng tinh-hoa Tam-giáo, Phật-Giáo Hòa-Hảo đã phát-dương giáo-pháp chơn-truyền của Đức Thích-Ca Mâu-Ni làm căn-bản giáo-lý, lại thêm các tư-tường Nho-giáo, Lão-giáo, đã ăn sâu vào tập-tục dân-tộc Việt-Nam, để kết thành một hệ-thống tư-tưởng Đạo-học có đặc-thái dân-tộc Việt-Nam.

Với giáo-thuyết phong-phú ấy, Phật-Giáo Hòa-Hảo là một tổ-chức đang hướng dẫn một phần nhơn-loại dưới ánh sáng của Đức Phật, để đưa con người trong thế kỷ hiện-tại đến những giá-trị tinh-thần mới, hầu cùng với các Phật-tử Thế-giới và các Giáo-hội Phật-giáo khắp các quốc-gia, biểu-dương Đạo-Phật, cải tạo xã-hội, giải-thoát Con Người.

XI.- HỆ-THỐNG TỔ CHỨC

- Tổ Đình Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo
- Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo

(Tài-liệu Báo PHƯƠNG-ĐÔNG số 23, xuất bản tháng 5/1973, do tác giả Hinh-Phương viết)

Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hảo do các thành viên Huỳnh Tộc trông coi và thực hiện nhiệm vụ gìn giữ di tích lịch sử của Phật Giáo Hòa Hảo.

Tổ Đình là nơi tổ chức các nghi lễ lớn trong năm và cũng là nơi đã diễn ra cuộc lễ tấn phong Ban Trị Sự Trung Ương nhiệm kỳ I do ông Lương Trọng Tường được đề cử làm Hội Trưởng (29-11-1964).

XII.- HỆ-THỐNG BAN-TRỊ-SỰ

    - Hội-đồng Trị-sự Trung-Ương
    - Các Ban-Trị-Sự Tỉnh : An-giang, Châu-đốc, Sadec, Kiến-phong, Kiên-giang, Vĩnh-long, Phong-dinh, Bạc-liêu, Chương-thiện, An-Xuyên, Ba-Xuyên, Biên-hòa, Gia-định, Vĩnh-bình, Kiên-hòa, Kiên-tường, Lâm-đồng, Tuyên-đức, Ninh-Thuận, Phú-Yên, Bình-định, và liên tỉnh Long-an/Đinh-tường.
    - Các Ban-Trị-Sự Xã : Saigon, Cần-thơ, Mỹ-tho, Rạch-giá, Vũng-tàu, Đà-lạt
    - Các Ban-Trị-Sự trực thuộc Trung-ương : Thánh-địa Hòa-Hảo, Xã Thiện-từ
    - 82 Ban-Trị-Sự cấp Quận, 476 Ban-Trị-Sự cấp Xã, 3,100 Ban-Trị-Sự Ấp

XIII.- CƠ SỞ TU-VIỆN

    213 chùa-chiền, tu-viện
    468 độc-giảng-đường
    2,876 văn-phòng

XIV.- NHÂN-SỰ

    - Hội đồng Trị-sự Trung-ương gồm 23 người.
    - Các Ban-Trị-Sự gồm từ 10 đến 15 người.
    - 36,500 trị-sự-viên các cấp .
    - 2,679 tu sĩ và nhân viên tại các tu viện.
    - 6,086 độc giảng viên.
    - 10,000 nhân viên và khóa sinh ngành Phổ-thông giáo-lý.
158  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / LỊCH SỬ / Tiểu Sử Của Đức Huỳnh Giáo Chủ vào lúc: 03/08/09


TIỂU SỬ CỦA ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ

CÔNG ĐỨC CỦA NGÀI ĐỐI VỚI ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ TỔ QUỐC VIỆT NAM



* Đức Huỳnh Giáo Chủ: 1920 - 1947
* Phật Giáo Hòa Hảo: 1939 - ~
* Đức Giáo Chủ khai sáng đạo lúc 19 tuổi

Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập ra Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, sinh vào ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi, nhằm ngày 15 tháng giêng năm 1920 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang) gần biên giới Việt - Miên.

Ngài là người con trai cả của Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm, một hương tộc nổi tiếng và được tôn kính bởi dân chúng khắp vùng .

Sau khi đậu cấp bằng Tiểu học tại Tân Châu, Đức Giáo Chủ vì đau yếu liên miên, đã phải thôi học . Với sự khá giả của gia đình, Ngài có thể có đủ điều kiện học đến cấp cao, nhưng vì sự bệnh hoạn nói trên, khiến ngài không tiếp tục được . Năm 15 tuổi, nhiều cơn sốt rét dữ dội phát sanh, làm cho Đức Giáo Chủ ngày càng gầy yếu, mất ăn mất ngủ . Chứng bịnh nầy còn thỉnh thoảng biến sanh nhiều hiện tượng khác làm cho thân hình Ngài trở nên tiều tụy da dẻ xanh gầy .

Đau lòng vì bịnh của con, Đức Ông và Đức Bà (thân phụ và thân mẫu của Đức Giáo Chủ) hết lòng lo phương cứu chữa . Nhưng bịnh vẫn hoàn bịnh .

Trong mấy năm từ 15 đến 21 tuổi , Đức Giáo Chủ mắc phải chứng bịnh trầm kha mà không một thầy thuốc Đông Y hay Tây Y nào trị được . Thì ra đó là cơ hội mà các đấng Thiêng Liêng dọn sửa phần xác thịt để Đức Giáo Chủ tiếp nhận những điển quang tinh anh mạnh mẽ sau nầy .

Kịp đến ngày 18 tháng 5 năm Kỹ Mão (1939), một ngày dáng ghi nhớ trong lịch sử cách mạng và đạo giáo nước nhà, một cuộc lễ vô cùng tôn nghiêm được cử hành tại Tổ Đình để cho Đức Giáo Chủ "Đền Linh Khứu sơn trung thọ mạng" .

Bấy giờ Đức Giáo Chủ được 21 tuổi . Mặc dù còn bịnh hoạn dây dưa, gương mặt Ngài trông vẫn đẹp đẽ khôi ngô và trí huệ Ngài trở nên dị thường tỏ ngỏ . Bắt đầu từ đó Ngài chữa bịnh thuyết pháp và sáng tác Thi Văn Kệ Giảng .

Từ tháng 5 năm 1936, nhiều bịnh tà, bịnh điên nan y, đã được đưa đến tận làng Hòa Hảo và được chữa khỏi, không khác nào Đức Chúa Giê Su hay Phật Thầy Tây An thuở trước đã chữa khỏi muôn vạn dân lành . Vì vậy mà số người đến xin trị bịnh càng lúc càng đông . Kẻ ở xa xôi tận miền Trung hoặc Sài Gòn, Chợ Lớn, cũng như người ở gần gũi miệt Sa Đéc, Cần Thơ đua nhau đến nhờ Ngài cứu chữa .

Phương pháp của Đức Giáo Chủ rất đơn giản . Tùy theo triệu chứng của bịnh nhân, Ngài khi thì nước lã, giấy vàng, lúc thì đưa bông trang, lá bưởi ....Một điều đáng để ý là mỗi khi trị bịnh cho người nào là Ngài khuyên họ nên niệm Phật tưởng Trời và vái van Thần Thánh bởi vì :

Thành lòng nước lã nên hồ,
Hữu tâm chí đức cam lồ Phật ban.

Số người được cứu sống kể sao cho xiết . Nhờ sự cứu bịnh đó của Ngài, Đức Giáo Chủ trong một thời gian ngắn khoảng một năm (1939-1940), đã thu hút được một số đông quay về ngưỡng mộ .

Thế mới hay Ngài đã thực hành phương pháp dự định trước kia là "dùng huyền diệu của Tiên Gia độ bịnh cho kẻ có căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ bi của Chư Vị với Trăm Quan" . Người ta đã cảm đức và ghi ân, nên đã trùng trùng quy y Phật Pháp .

Sau ngày "chịu lịnh Tây Phương thọ ký", tức 18-5 Kỷ Mão, Đức Giáo Chủ ít trầm mặc và nói nhiều hơn xưa . Gặp ai Ngài nói nấy . Ngài nói về sắc diện, tính tình và tương lai của người đối thoại để gần cuối câu chuyện, Ngài khuyên làm lành, lánh dữ và nên tin Phật, xem Kinh .

Ngài luôn luôn khiêm tốn trong cử chỉ, văn từ và rất mực bình dân, nhũn nhặn với bất cứ người thân sơ, cao thấp . Nhứt là đối với hạng người quyền thế Đức Giáo Chủ không hề có cử chỉ khúm núm hoặc dùng những tiếng "bẩm", tiếng "ngài" như thời lệ .

Biết bao người có khuynh hướng Cộng Sản đến chất vấn Giáo Chủ . Họ lấy làm khâm phục vì đã nói thấu ruột gan, và còn giải thích, biện luận rõ ràng để đánh đổ cái học thuyết Mácxit - Lênin mà người ta đang theo ấy .

Thế là trong số thập phương thiện tín tới viếng Giáo Chủ ngoài những người xin bùa, thỉnh thuốc, từ ấy lại có thêm nhiều người đến để, hoặc nghe Ngài giảng giải giáo lý nhiệm mầu, hoặc đọ sức thử tài xem coi sở kiến của Ngài có áp phục được họ chăng .

Trong số những tay cự phách của làng nho, cùng những tay quyền quý tân học đang làm việc cho Pháp đến với Ngài, ta có thể kể Chủ Quận Tân Châu, Chủ Quận Chợ Mới, y sĩ Nguyễn Kỳ Trân, thi sĩ Huỳnh Hiệp Hòa, Hương cả Đào-thành Đô và nhiều học giả đương thời khác . Những vị nầy sau một lần gặp Đức Giáo Chủ thì đều phục tài kính đức .

Một ký giả ở Sài Gòn, ông Hiên Sĩ, khi viết về Đức Giáo Chủ trong hơn 30 bài báo, có diễn tả tài hùng biện của Ngài bằng câu "thao thao bất tuyệt" và kết luận rằng Ngài đã "chiếm giải quán quân về phương diện diễn thuyết ".

Lại nữa, lời văn của Đức Giáo Chủ có mãnh lực hấp dẫn quần chúng một cách lạ thường nên thính giả nhiều khi mủi lòng rơi lụy, liền phát tâm tu hành theo Đạo .

Ai đã từng dõi gót theo Ngài trong cuộc khuyến nông năm 1945, trong vòng 2 tháng với không biết bao nhiêu lý luận khác nhau, đều phải công nhận Ngài là bậc "mồm sông bút sấm" .

Những cuộc thuyết pháp kể trên, nếu cộng với 107 lần chu du khuyến nông thuyết giáo trên gần khắp miền Nam năm 1945, chúng ta có thể nói Ngài đã trải qua trên một ngàn lần khuyến thuyết quan trọng với hằng ngàn đề tài khác biệt . Và nhờ những cuộc thuyết pháp này mà người mộ đạo quy căn, ngày càng đông thêm không xiết nói.

Nhưng công đức vĩ đại lớn nhất của Đức Huỳnh Giáo Chủ trong việc truyền giáo là việc viết ra Kệ Giảng . Nhờ Kệ Giảng đó mới được phổ truyền một cách sâu rộng chủ trương canh tân Phật Giáo của Ngài và nhờ đó mà hằng triệu người mộ đạo và quay về với chân tính, tự tâm .

Những tác phẩm của Đức Giáo Chủ viết ra, phần nhiều thuộc thể văn vần . Ngài viết, dầu tản văn hay vận văn, điều đáng để ý là khi cầm bút thì cứ viết thẳng một mạch, không dùng giấy nháp . Có thể kể những tác phẩm trường thiên sau đây của Đức Giáo Chủ:


1. Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm , tức quyển nhứt, văn lục bát, dài 910 câu xuất bản lần đầu năm 1939.

2. Kệ Dân của Người Khùng , tức quyển nhì, văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu, xuất bản lần đầu năm 1939.

3. Sám Giảng , tức quyển ba, văn lục bát dài 612 câu, xuất bản lần đầu năm 1939.

4. Giác Mê Tâm Kệ , tức quyển thứ tư, văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu, xuất bản lần đầu năm 1939.

5. Khuyến Thiện , tức cuốn thứ năm, đoạn nhứt và đoạn chót viết bằng lối lụt bát, đoạn giữa viết bằng lối thất ngôn, dài 756 câu, xuất bản lần đầu năm 1942.

6. Tôn-Chỉ Hành Đạo. Quyển này viết bằng văn xuôi, xuất bản lần đầu năm 1945 . Tuy văn xuôi, quyển này có một đặc sắc là giản dị mà lưu loát, âm hưởng du dương nhịp nhàng.


Ngoài sáu quyển vừa kể, Đức Giáo Chủ còn viết ra rất nhiều bài thi, bài văn gom góp để in thành một quyển nhan đề "Sưu Tập Thi Văn Giáo Lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ".

Nhìn qua công đức truyền giáo của Đức Giáo Chủ, ta thấy trong một thời gian tuy không dài nhưng những điều Ngài đã thực hiện, bắt buộc những người dù cho khó tính tới đâu, cũng phải công nhận là vô cùng phong phú và vĩ đại .

Đó là đối với công cuộc truyền giáo . Đối với sự nghiệp Chánh Trị và công cuộc cứu quốc :

Trong khoảng thời gian từ 1940 đến 1942, vì sự tập hợp của các tín đồ thiện nam tín nữ đến nghe các cuộc thuyết pháp của Ngài và quy y theo đạo ngày càng đông , thực dân Pháp đã nhiều lần bắt giam Đức Giáo Chủ để theo dõi và giám sát ngôn ngữ, hành vi của Ngài . Năm 1942, Ngài được hiến binh Nhật giải thoát và tạm thời được an toàn để tiếp tục công cuộc liên lạc với các nhà ái quốc chân chính .

Năm 1943, Ngài nhận làm cố vấn cho Thanh Niên Ái Quốc Đoàn, sau đổi tên thành Việt Nam Ái Quốc Đảng . Cuối năm 1944, Ngài bí mật chỉ thị cho thanh niên PGHH thành lập Bảo An Đoàn ở một số tỉnh miền Tây . Tháng 3 năm 1945, Ngài thành lập VN Độc Lập Vận Động Hội vì Ngài nhận thấy thái độ chưa dứt khoát của người Nhật về vấn đề độc lập và thống nhất của VN . Tháng 10 năm ấy , Ngài liên kết với các lãnh tụ tôn giáo và đảng phái quốc gia thành lập Mật Trận Quốc Gia Thống Nhất . Mặt trận này quy tụ hầu hết các lực lượng tôn giáo, chánh trị, và trí thức Miền Nam, nên đã bị Trần Văn Giàu, lúc bấy giờ là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ cùng đồng bọn Cộng Sản bao vây văn phòng PGHH ở góc đường Miche và Sohier . Tất cả nhân viên tại đây đều bị bắt . Đức Giáo Chủ cùng một số tín đồ thân cận vượt khỏi vòng vây lên xe đi về ngoại ô châu thành Biên Hòa, sau đó đến rừng chồi Long Thành, cuối cùng băng rừng vượt suối đến Cỏ Nay, thuộc tỉnh Bà Rịa , rồi rút sâu vào rừng chà là .

Đến năm 1946, Ngài bí mật trở về ẩn trú tại vùng Chợ Lớn, và sau tết nguyên đán năm Bính Tuất các tín đồ PGHH bắt đầu nối được liên lạc với Ngài . Tháng 4 năm 1946 Mặt trận quốc gia liên hiệp ra đời mà Đức Giáo Chủ là Chủ Tịch , trong đó quy tụ rất đông các lãnh tụ quốc gia .

Nhưng sau đó không lâu, Việt Minh lại dở ngón độc tài hạ lệnh giải tán mặt trận . Ngày 21 tháng 9, năm 1946 Đức Giáo Chủ thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng để có danh nghĩa tranh đấu cứu quốc, đồng thời kết nạp các phần tử quốc gia chân chính .

Tháng 10 năm 1946, sau nhiều lần Phạm Thiều theo chỉ thị Việt Minh, mời Đức Giáo Chủ tham chánh, Ngài đứng ra lãnh nhiệm vụ Ủy Viên Đặc Biệt trong Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ . Điều này chứng tỏ thiện chí của Ngài lúc nào cũng nghĩ tới quyền lợi tối thượng của Tổ quốc mà dẹp bỏ hiềm riêng . Nhưng Việt Minh đã phản bội, cho tái diễn những cuộc xô xát giữa họ và tín đồ PGHH tại miền Tây . Được tin nầy Đức Giáo Chủ đã rời miền Đông về miền Tây dàn xếp .

Ngày 16 tháng 4 năm 1947 (tức ngày 25 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi), chi đội trưởng Vệ Quốc Quân Bửu Vinh và Thanh Tra Chánh Trị miền Tây Nam Bộ Trần Văn Nguyên, âm mưu mời Ngài đến họp và hãm hại Ngài tại ngọn rạch Đốc Vàng Hạ, nay thuộc xã Tân Phú, tỉnh Đồng Tháp . Trong lúc họp, Bửu Vinh đã cho quân của Việt Minh phục kích và giết các tự vệ quân của Đức Giáo Chủ . Trong lúc rối loạn, Đức Thầy vẫn bình tĩnh , thổi tắt ngọn đèn và ra đi trong đêm tối . Sau biến cố này , không một ai rõ tin về Ngài .

Liền ngày sau, Việt Minh đã phát động một chiến dịch đại quy mô nhằm tiêu diệt tất cả các chức sắc PGHH và cán bộ VN Dân Chủ Xã Hội Đảng .

Kể từ ngày Đức Giáo Chủ ra đi cho đến nay 1947 - 2001 là đã 54 năm tròn, PGHH phải liên tục tự vệ để sống. Đoàn thể PGHH vẫn một lòng tin tưởng rằng Cộng Sản không thể nào hãm hại được Đức Giáo Chủ và Ngài sẽ trở về để hoàn tất sứ mạng thiêng liêng tại Hội Long Hoa đúng như những lời tiên tri trong kinh giảng.

Và với công đức phi thường đó của Đức Giáo Chủ trong công cuộc truyền giáo và cứu quốc, trái tim của người tín đồ PGHH đã và đang luôn hướng về Ngài và sẵn sàng xã thân vì đạo nghĩa.

Trang: 1 ... 15 [16]
Portal Management Extension PortaMx™ v0.956 | PortaMx © 2008-2009 by PortaMx corp.